Ông Hà Sĩ Đào ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc năm nay đã gần 80 tuổi, vốn là một cán bộ lâm nghiệp gắn bó với vùng Hà Giang, Tuyên Quang hơn 30 năm. Ông luôn coi cây rừng và muông thú là những “bạn tâm giao”. Khi nghỉ hưu ông nhận một khoảnh rừng trống để trồng rừng vừa tạo thu nhập và cho đỡ “nhớ rừng”. Thật bất ngờ, khi các loại cây trong vườn đã vươn cao đón nắng thì cò “ở đâu” bay về trú ngụ, người dân quen gọi là vườn cò Đá Trắng. “Tôi vui lắm, đất lành cò đậu, chúng đã tin ở đây thì mình phải đối tốt với chúng” và từ đó ông Đào trở thành “người bảo vệ bất đắc dĩ”.
 |
|
Ông Hà Sĩ Đào cùng “người bạn” trông cò. |
Khu vườn rộng hơn 2ha có các loại cây như lim, lát, de, tre, mai, cọ… Vườn của ông là nơi trú thân cho hàng nghìn con chim với đủ các loại như chèo bẻo, cu, gáy và đông nhất vẫn là các loại cò trắng, cò lửa, cò nâu…
Thấy trong vườn có nhiều chim, cò, không chỉ người dân vào bắt chim non, lấy trứng, phá tổ, mà bọn săn bắn trộm hay những tay “rửng mỡ” cũng đến phá vườn, làm phiền ông. Nhưng họ đều bị ông Đào ngăn lại.
Để bảo vệ đàn cò, ông Đào phải thường xuyên túc trực ở vườn. Ông đã chăng dây thép, đóng cả đinh lên thân cây và hơn thế ông còn tự thiết kế cho mình một cái ghế làm từ thân cây mai, đặt dưới tán cây si già để vừa hóng mát lại tiện cho việc trông coi. Cái ghế tuy mộc mạc nhưng đã gắn bó với ông từ ngày đầu làm công việc này.
Mùa cò về, người buôn đến hỏi mua cò của ông để phục vụ cho các nhà hàng đặc sản dưới thành phố. Nhưng làm sao ông có thể bán được? Vườn cò là tâm huyết cũng là niềm vui, trọng trách mà tự ông thấy mình phải có trách nhiệm bảo vệ. Thế là ông thẳng thừng từ chối...
Làm bạn với ông trong mỗi lần đi tuần là hai chú chó mà ông rất quý, ông đặt tên cho chúng là Quýt và Quắt. Như hiểu được việc làm của chủ, mỗi lần ông vác rựa ra vườn là chúng lại quấn theo ông. Chúng đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ vườn cò. Mỗi ngày đi tuần không biết bao nhiêu lần, ông chỉ sợ khi vắng bóng ông lũ bắn trộm lại giết hại cò. Thấy ông đi đêm đi hôm, bà Nga, vợ ông xót xa: “Ông làm không công thì đến thế là cùng, có ai bắt tội ông đâu. Cứ kệ nó, cò của ông đâu mà ông giữ”. Những lúc như thế, ông rất thông cảm và chia sẻ với người bạn đời của mình. Chỉ vì thương ông tuổi cao đêm hôm vất vả mà bà nói vậy, chứ thực ra bà cũng quý vườn cò lắm. Bà thường giúp ông trông coi vườn những khi ông đi vắng. Ông tâm sự với bà: “Mình phải có trách nhiệm khi cò chọn nhà mình làm nơi cư ngụ, đừng vì một chút lợi ích trước mắt hay vì công cán mà có tội với chúng”.
Rời vườn cò Đá Trắng khi đàn cò kiếm ăn trở về, trong tiếng xào xạc của cây rừng, của tiếng kêu muông thú, giọng ông Đào vẫn văng vẳng: “Chả biết còn giữ được vườn cò này đến bao giờ, chính quyền sở tại thì không mấy quan tâm, đơn thư lên các cấp thì họ về chỉ trỏ rồi đi. Không biết khi tôi “về với các cụ” thì lấy ai chăm sóc bảo vệ vườn cò này, hay lại tan tác hoang tàn...”.
Bài và ảnh: QUANG SƠN