Năm 1952, phong trào đánh Pháp giữ làng ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương phát triển mạnh. Chiều 7-7, quân Pháp súng ống kềnh càng từ làng Quýt (xã Kỳ Sơn) kéo sang hướng làng Xuân Nẻo (xã Hưng Đạo) rất đông...
Năm 1952, phong trào đánh Pháp giữ làng ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương phát triển mạnh. Chiều 7-7, quân Pháp súng ống kềnh càng từ làng Quýt (xã Kỳ Sơn) kéo sang hướng làng Xuân Nẻo (xã Hưng Đạo) rất đông. Ông Nguyễn Văn Bửa cùng ông Nhác- Bí thư Đảng uỷ kiêm Chính trị viên xã đội và ông Nhỡ Chấu (trong tổ du kích địa phương) phối hợp với bộ đội của tỉnh chặn đánh địch ở chiến luỹ ngoài đường hào bọc quanh làng.
Ta ít quân, sức chiến đấu chênh lệch quá lớn so với địch, nên sau ít phút giao tranh phải rút vào trong làng Xuân Nẻo, lợi dụng địa hình, địa vật, tiếp tục chiến đấu. Quân địch tuy đã bị thiệt hại nhưng vẫn ở thế áp đảo. Tổ du kích ông Bửa rút xuống hầm bí mật. Khoảng 16 giờ 30 phút, bọn giặc phát hiện được hầm, chúng gọi các ông đầu hàng. Nhưng cả 3 người đã chiến đấu chống lại chúng đến cùng. Ông Nhác, ông Nhỡ Chấu anh dũng hy sinh. Ông Bửa bị cụt mất bàn tay trái, vẹo khoèo cánh tay phải. Bọn địch đẩy ông đến nhà tù Đạm Xá (Hải Phòng). Tháng 10-1953, thấy ông Bửa bị liệt toàn thân, chúng trả ông về quê. Sự chăm sóc của bà Trần Thị Gằm, người vợ thân thương và tình cảm xóm làng đã giúp ông dần dần hồi phục. Chứng liệt toàn thân đã hết.
Hòa bình lập lại, ông Bửa mang khí thế của tuổi xuân góp phần xây dựng quê hương. Từ năm 1955, ông tham gia Ban Thuế nông nghiệp xã Hưng Đạo, vào đoàn thể, dân quân du kích. Năm 1960, ông được giao thống kê cải cách ruộng đất tại địa phương, kiêm xóm trưởng, phó bí thư Đoàn thanh niên xã Hưng Đạo. Năm 1962 ông làm đội trưởng sản xuất Hồng Phong, kiêm công an viên xã. Đến năm 1974, khi sức lực giảm nhiều, ông mới chịu ở nhà cùng vợ tăng gia, chăm luống rau, nuôi con lợn, con gà…
|
Con người dũng cảm đối đầu với quân địch trong kháng chiến, lại hừng hực lao vào công cuộc kiến thiết quê hương. Bao năm “cơm nhà-việc công”, nay tuy đã 76 tuổi nhưng trong người thương binh chống Pháp này luôn trào dâng niềm mong ước làm sao cho đất nước phồn vinh, hết tham nhũng! Có phải ông đã từng ở trong những giây phút hiểm nghèo nhất mà vẫn nghĩ về tương lai của dân tộc, đã làm theo lời kêu gọi của Bác Hồ: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, nên mới thấy sâu xa cái tệ bạc của kẻ lợi dụng chức quyền để tham nhũng? Và, chính ông cũng cảm nhận rằng niềm tin của mình nhất định sẽ được đền đáp khi toàn Đảng, toàn dân “đã quyết, đã đồng” chống tham nhũng- Ông Bửa phấn chấn nhắc đến lời chúc Tết Đinh Hợi 1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng”. |
ĐỒNG CÁT (Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Văn Bửa)