CCB Nguyễn Xuân Trí viếng nghĩa trang An Tây Nhơn.

Năm 1964, tôi bị bệnh phải vào Quân y viện tại Phú Trung, Phú Bình, xã An Phú, Củ Chi, Sài Gòn để điều trị. Trong thời gian ở bệnh xá, tôi luôn nhận được sự chăm sóc tận tình của một nữ hộ lý trẻ tên là Cao Thị Thu, nhà Thu ở ấp Phú Trung, xã Phú Mỹ Hưng, Củ Chi và cô đang theo học lớp y tá ở Quân y viện. Thu có nước da ngăm ngăm đen, dáng người thon, khuôn mặt tươi như ánh trăng rằm, tiếng nói trong trẻo, vui tươi mà kín đáo.

Nhà Thu cách quân y viện vài cây số, nên một lần tôi đánh bạo đến thăm. Thu còn bà ngoại lưng đã còng, tóc bạc. Mẹ Thu khoảng 40 tuổi, nhanh nhẹn, tháo vát và tỏ ra rất quý tôi. Thu còn có hai người em gái đang đi học văn hóa ở vùng giải phóng.

Rồi tình yêu đến với chúng tôi thật ngọt ngào và trong sáng. Khi tôi khỏi bệnh, cũng là lúc Thu cũng kết thúc lớp y tá nhận công tác ở một đơn vị xa nhà. Hôm chia tay, Thu chỉ kịp giúi vào tay tôi chiếc khăn tay trắng muốt với hàng chữ nắn nót: “Thương anh mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Dù cho cách núi, ngăn sông/ Em đây vẫn giữ một lòng thủy chung”. Còn tôi cũng chỉ kịp hẹn với Thu rằng: “Bao giờ miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, anh sẽ về với em!”.

Rời Củ Chi, tôi mang theo hình ảnh người yêu bé nhỏ. Một năm, rồi hai năm trôi qua, cuộc kháng chiến ngày càng ác liệt. Một vài lần nhận được thư của Thu, món quà quý nhất của chiến trường, tôi mừng vui khi thấy em đã trưởng thành và đã là y sĩ đầy kinh nghiệm.

Một buổi chiều cuối năm 1969, tôi nhận được tin sét đánh: “Trong một trận chống càn ở Củ Chi, Thu đã bị xe tăng giặc quần sập hầm và anh dũng hy sinh”. Thu không còn nữa, em đã yên nghỉ ở Hố Bò, dưới lớp đất đầy vết xe tăng địch. Tai tôi ù đi, đau đớn hơn cả lúc bị thương mất một con mắt, nhức nhối hơn lúc bị chấn thương sọ não. Nỗi nhớ cháy ruột gan trong những đêm thanh vắng. Chiếc khăn tay em tặng tôi vẫn còn đây, hàng chữ chạy vòng quanh khăn vẫn màu đỏ thắm; bên tai tôi văng vẳng lời em: “Bao giờ giải phóng thì chúng mình làm đám cưới nghe anh?”...

Năm 1972, trước khi ra Bắc chữa bệnh vì vết thương tái phát, tôi ghé qua Củ Chi. Gia đình Thu đã chuyển đi nơi khác. Nếp nhà xưa đầy cỏ dại. Hàng xóm cũ của Thu cho biết, bé Quýnh - em út Thu cũng đã hy sinh! Còn cô Ba Yểng, em gái kế Thu, giờ cũng là bộ đội giải phóng. Tôi không kịp tìm nơi an nghỉ của Thu, đành gói một nắm đất vườn nhà em lẫn mảnh bom bỏ vào đáy ba lô mang theo ra Bắc.

Năm 1973, khi tôi đang nghỉ an dưỡng tại Quảng Bá, Hà Nội, thì bất ngờ Ba Yểng tới thăm tôi. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi. Nhìn Ba Yểng giống Thu đến lạ lùng, cả vóc dáng lẫn khuôn mặt, nước mắt tôi cứ tuôn trào. Hết thời gian công tác ở Bắc, Ba Yểng từ biệt tôi trở vào Nam. Mãi lúc lên tàu cô mới đưa cho tôi mảnh giấy ghi nơi an táng của Thu và bảo: “Bao giờ đất nước giải phóng thì vào thăm chị Thu nghe anh?”.

Ngay sau Ngày 30-4, tôi xin phép Trung tâm điều dưỡng, lên đường vào Củ Chi, đến nghĩa trang liệt sĩ An Nhơn Tây, run run lần tới hàng mộ số 8, tìm đến mộ bia ghi tên liệt sĩ Cao Thị Thu. Em nằm đó, cả tuổi thanh xuân hiến dâng cho Tổ quốc. Em nằm đó, để lại trong tôi tình yêu chung thủy, vẹn nguyên cả tình đồng đội.

Đến bây giờ, dẫu thời gian và tuổi tác đã đưa tôi về nửa cuối con dốc cuộc đời, nhưng tình cảm của tôi với Thu thì vẫn vẹn nguyên như ngày nào. Nhớ tới Thu, tôi lại thầm đọc câu thơ của nhà thơ Vũ Cao: “Ai khắc tên em thành liệt sĩ/ Bên những hàng bia trắng giữa đồng/ Nhớ nhau, anh gọi em đồng chí!/ Một tấm lòng trong vạn tấm lòng”.

Bài và ảnh: HỒNG CẨM

(Ghi theo lời kể của Đại tá Nguyễn Xuân Trí, nguyên Đội trưởng biệt động đông nam Sài Gòn)