QĐND - Đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, khi làm thợ ở Xưởng cơ khí, thuộc Viện Nghiên cứu Quân giới (nay là Viện Vũ khí), tôi là một trong ít người được nhận quyển sách mang tên “Công thức nhà máy”, do đồng chí Nguyễn Văn Bào, Trưởng phòng Cơ khí, nguyên giáo viên Trường Kỹ thuật thực hành (EPI) thời Pháp thuộc ở Hà Nội biên soạn. Có thể nói, đây là quyển sách về kỹ thuật cơ khí đầu tiên của nước ta.
Nhà máy sửa chữa đại tu ô tô quân sự đầu tiên của quân đội ta mang tên Chiến Thắng. Trong kháng chiến, xe ô tô là phương tiện chủ lực và quyết định trong vận tải đường bộ. Chạy nhiều, đường xấu, luồn rừng, núi… nên xe hư hỏng nhiều. Đặc biệt, một hư hỏng chưa bao giờ các thợ kỹ thuật của chúng ta gặp phải là cả bốn vòng bi côn, lắp ổ chốt đứng “quả bưởi” của xe GAZ-63 đều bị vết hằn sâu xuống áo bi, nên tay lái rất nặng. Giải quyết hư hỏng này chỉ có thể thay mới, hoặc mài cho hết vết hằn, nhưng với điều kiện của nhà máy khi đó, cả hai cách đều không thực hiện được. Thay mới thì không có đủ số lượng, còn mài thì không có máy mài chuyên dùng, nhất là trong điều kiện các thợ của nhà máy (trong đó có tôi), đi sửa cơ động.
Tôi chợt nhớ trong kho vật tư có một máy mài và cùng đồng chí Đặng Văn Nội thợ tiện giỏi, nhiều sáng kiến làm bộ gá để cặp áo bi lên mâm cặp, dò tìm độ côn để mài thử. Tôi đinh ninh như vậy là giải quyết xong, nhưng khi mài thử thì tia lửa rất ít, ngắn, độ mòn nhanh, vết mài không nhẵn bóng. Tôi và các đồng chí thợ tiện, nguội đều không biết tại sao, nhưng không biết hỏi ai, bởi lúc đó là giữa năm 1955, các trường trung cấp kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa chưa khai giảng khóa 1...
Chợt nghĩ đến quyển “Công thức nhà máy”, tôi vội chạy về mở ba lô lấy sách ra. Đến trang viết về mài chính xác có đoạn: “Tốc độ vành của đá mài phải từ 25m/giây, đá mới ít bị mòn”. Tôi đọc lại từng chữ và thấy đúng với trường hợp bế tắc mài vết hằn trên áo bi của xưởng. Tôi cảm động và vui mừng vì đã tìm ra nguyên nhân. Từ số liệu trên, tôi liên hệ với thực tế ở nhà máy để điều chỉnh lại thông số. Máy mài cầm tay có số vòng quay tới 12.000 vòng/phút, trong khi đá mài đường kính không phù hợp, nên tốc độ vòng của đá tới hơn 30m/giây. Cả lý thuyết và thực tế đã giải đáp cho tôi và xưởng một vấn đề bế tắc bằng công nghệ mài chính xác với quy định về tốc độ vòng quay của đá mài.
Tôi cầm sách đến chỗ đồng chí Nội đọc cho đồng chí nghe và kết luận là đá mài chưa đủ tốc độ vòng. Căn cứ số vòng quay của động cơ điện, đường kính đá mài, tôi tính toán đường kính hai bánh đai mới để thay, đồng thời giao trưởng ban tiện và đồng chí Nội thực hiện khẩn trương. Qua mài thử, bề mặt được mài hết vết hằn, nhẵn, đá mài rất ít mòn, chất lượng đạt yêu cầu kỹ thuật. Tất cả áo bi, bi có vết hằn được mài lại hết.
Vậy là chỉ trong một trang của quyển sách “Công thức nhà máy” đã giải quyết được một vấn đề kỹ thuật lớn, cho thấy giá trị của sách. Qua thực tế này càng động viên, khuyến khích tôi học, đọc để mở rộng kiến thức, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chuyên môn.
NGUYỄN VĂN MAI