Lần đầu tiên đọc nhật ký ra trận của cựu chiến binh Đinh Gia Công, tôi đã “say” ngay lập tức. Anh Công là thương binh hạng 2/4, từng tham gia chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị ở “mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Anh sinh năm 1948, ở thôn Tân Hội, xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Trang nhật ký mở đầu mang thương tích do bom Mỹ xén của Đinh Gia Công.

Cuốn nhật ký cỡ 12x16cm của anh làm bằng giấy đào lâm màu sẫm, được bọc bằng lớp vải đỏ; không còn nguyên vẹn bởi trên mình nó mang thương tích của một mảnh bom thù xén ngọt một góc từ bên này sang bên kia trong ngày 5-8-1972 tại chiến hào Thành cổ Quảng Trị, lúc anh cùng một đồng đội giữ chốt trong hầm chữ A, còn kẻ địch lúc ấy cách chỗ anh không đầy ba chục mét.

Thần tượng Pa-ven

Năm học 1969-1970, Công đang học ở Trường cấp III Bố Trạch (Quảng Bình) thì trúng tuyển nghĩa vụ và lên đường bảo vệ Tổ quốc. Sau 3 tháng huấn luyện cơ bản, anh được bổ sung vào Đại đội công binh 363, Huyện đội Bố Trạch thuộc Tỉnh đội Quảng Bình. Trong môi trường sống, học tập, lao động và rèn luyện đó, để không ngừng tiến bộ và trưởng thành, từ ngày 23-8-1971, Đinh Gia Công đã tự đóng sổ tay để viết nhật ký đời lính của mình. Trong lời mở đầu tập nhật ký, anh viết: “Pa-ven Coóc-sa-ghin trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy” đã giúp tôi rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày và trong đấu tranh cách mạng. Mình phải sống như thế nào cho xứng đáng trong thời đại hiện nay, thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ”... “Bản thân tôi sống và lớn lên trong giai đoạn này phải làm thế nào cho thật có ích, để đóng góp một phần nhỏ vào cuộc chống Mỹ, cứu nước mau thắng lợi”.

Một lần vận chuyển cột bê tông lên ô tô cho một đơn vị đến nhận hàng, do vác quá nặng nên sống lưng anh trật khớp. Lại do anh uống nước khe suối, khi đi rừng lấy củi, chặt cây làm hầm mà anh đau bụng. Hai loại bệnh đó âm ỉ trong người, khiến nước da anh tái xanh, nhìn vào ai cũng ái ngại. Nhưng Đinh Gia Công vẫn im lặng, quyết không kêu ca. Nhật ký ngày 31-12-1971, anh viết: “Bề ngoài vẫn bình thường với công việc, nhưng bên trong, bệnh tật hoành hành dữ dội, nhưng tôi quyết tâm chiến đấu với bệnh tật để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng của Đảng giao cho. Tôi phải học tập tinh thần của Pa-ven trong “Thép đã tôi thế đấy”...

Đại đội trưởng biết chuyện Đinh Gia Công bị bệnh nhưng vẫn cố gắng trong công việc đã bắt buộc anh phải đi nằm viện. Chấp hành mệnh lệnh, anh vào Đồng Hới điều trị ở bệnh viện dân y dã chiến. Thời kỳ này, bệnh viện không đủ phương tiện khám chữa. Gần 20 ngày điều trị, ngoài được tiêm thuốc giảm đau và xoa bóp cột sống bằng dầu long não, bệnh đau lưng của Đinh Gia Công không hề thuyên giảm. Anh quyết định xin ra viện, trở về tham gia lao động đúc đổ bê tông với anh em trong đơn vị. Nhưng công việc nặng nề khiến cột sống lại nhức nhối. Tuy vậy, anh vẫn nghiến răng chịu đựng. Nhật ký ngày 6-4-1972 của anh ghi: “Lặn lội mấy ngày nay để vớt sạn cũng khá vất vả. Khom lưng suốt buổi dưới sông, đến khi nghỉ không sao đứng dậy được, bởi lưng đau thắt. Nhưng, cũng vì thế mà tôi lại càng cố gắng hơn. Đêm về nằm mê mệt, không quậy được cho đến sáng. Rồi, tôi cứ tiếp tục ra đi làm với đồng đội. Càng đau, tôi lại càng gắng. Cứ nghĩ đến lúc nào không thể gắng được thì thôi”. Tình cờ, một lần xin đơn vị về nhà nghỉ chủ nhật, anh được gia đình đưa đến một thầy lang chuyên nắn lưng, sửa khớp. Và hiệu nghiệm thay, bệnh thuyên giảm.

Nhật ký trong Thành cổ

Năm 1972, ta giải phóng Quảng Trị, nhưng địch quyết tâm chiếm lại, tạo nên sự giành giật quyết liệt đôi bên. Một tiểu đoàn đặc biệt của Tỉnh đội Quảng Bình được thành lập nhằm phục vụ cho chiến trường B5. Binh nhất Đinh Gia Công là một trong những chiến sĩ được đứng trong tiểu đoàn này…

Ngày 27-6-1972, chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị bắt đầu. Đinh Gia Công được điều về Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48. Cả đơn vị được lệnh hành quân cấp tốc vào trận. Anh ghi: “Tối, pháo sáng trên đầu, phía trái, phía phải, đằng trước, đằng sau nhưng xe vẫn cứ bon bon hướng tới phía Nam. Lúc trưa, khi xe dừng lại giữa đường, tình cờ mình gặp lại Binh tại Nông trường Lệ Ninh, cuối huyện Lệ Thủy. Lòng tôi quá sung sướng. Sự sung sướng không phải vì gặp lại được người yêu cũ đã chia tay, vì cô nàng ít thông cảm với đời lính, mình kiêu hãnh nói với Binh rằng, mình đang trên đường ra trận đây, đi chiến đấu để giải phóng miền Nam… Sáu giờ chiều, lên xe, bom giội bốn bề. B52 đánh phía trước, dứt bom, đoàn xe đưa chúng tôi lao qua nơi bom vừa nổ. 12 giờ khuya, xe đổ xuống Bãi Hà gần Nông trường Quyết Thắng. Tất cả tiếp tục hành quân đi bộ theo đường giao liên. 2 giờ 30 phút sáng thì dừng lại ngủ dưới cánh rừng. Ngày mai sẽ vượt sông Bến Hải”.

10 ngày tiếp đó, nhật ký của Đinh Gia Công ghi lại bước chân hành quân của đơn vị từ tây bắc Quảng Trị đến ém quân ở Ái Tử rồi qua Triệu Phong, cách thị xã Quảng Trị 7km với biết bao gian khổ khó khăn, bởi đạn pháo tàu giặc từ ngoài khơi bắn vào và bom B52 của Mỹ từ trên trời chụp xuống. Ngày 1-8-1972, Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B của anh chính thức tham gia chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 5-8-1972 sau 4 ngày đánh nhau với địch, anh cùng chiến sĩ Nguyễn Hồng Quảng quê ở Phúc Trạch, Bố Trạch được phân công ở lại trong hầm chữ A cùng hai tổ chiến đấu khác tại ngã tư Đệ Ngũ để giữ đất, không cho địch lấn chiếm. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt khi hai bên chỉ cách nhau vài ba chục mét. Sau hai lần bị ngất do đạn pháo địch nổ gần, tại trạm phẫu, anh đã tìm lại được cuốn nhật ký của mình và ghi lại diễn tiến cuộc chiến đấu đó:

 Đinh Gia Công (phải) cùng một đồng đội thắp hương trên mộ liệt sĩ Nguyễn Hồng Quảng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

“11-8-1972: Hơn 10 ngày lao vào chiến đấu với quân thù, tôi không có điều kiện để ghi vào cuốn sổ được. Quyển sổ (Nhật ký-TG) giờ đây đã bị bom thù xéo nát, nhưng những dòng nhật ký vẫn tươi mát và hùng tráng vẫn giữ lại bên mình. (Nhớ lại), chúng tôi đã rời thôn Ái Tử gần sân bay để vào trận là ngày 31-7 hoặc 01-8 gì đó, tôi không còn nhớ rõ nữa. Vào đến xã Triệu Kim, ở lại đó 3 ngày. Tình hình hết sức căng thẳng, đơn vị có hai đồng chí bị thương, dân ở đây đã sơ tán hết, chỉ còn một số dân quân tự vệ địa phương ở lại. 5 giờ sáng ngày 5-8-1972 chúng tôi bắt đầu vượt sông vào thị xã. Tôi cùng 4 đồng chí nữa được cử đi trinh sát, nắm tình hình địch để tối đơn vị tập kích. Tôi ở lại trận địa luôn, cách địch chưa đầy 30m. Tôi và Quảng, người cùng huyện, hai đứa chốt cùng hầm. Cuộc chiến đấu ngày hôm sau đã diễn ra ác liệt. Hai chốt kia anh em đã hy sinh cả. Chỉ còn chốt của tôi và Quảng. Đạn giặc bắn như mưa. Cối cá nhân, lựu đạn phóng nhanh của địch dìm hai chúng tôi không ngóc đầu lên được. Tuy nhiên, đạn B41 của tôi vẫn nhằm hướng địch mà lao tới.

Trước tình thế này, tôi đã để Quảng ở lại giữ chốt. Quan sát địa hình, tôi vọt nhanh, ẩn nấp, rồi lăn mình để lui về hầm chỉ huy Đại đội cách khoảng 100m để báo cáo. Xong, cầm hai nắm cơm, vác AK, tôi trườn nhanh, lách gọn để trở lại chốt. Nhưng hỏa lực lại dồn dập đổ xuống. Khi còn vài chục mét nữa thì tôi đến nơi, tôi bỗng thấy Quảng tì súng B41 lên hào chuẩn bị bắn, bỗng một chùm lựu đạn cực nhanh của giặc đã nổ ngay trên hầm. Quảng hy sinh rồi, ôi người bạn chiến đấu đồng hương của tôi. Tôi chựng lại đó. Đợi yên tĩnh, tôi lui về hầm chỉ huy Đại đội để cố thủ. Tối, tôi dẫn hai tổ vào lấy xác tử sĩ ở chốt. Nhưng giặc kiềm chế không thể vào được. Sáng sớm, tờ mờ, tôi dẫn tổ 4 người toàn B40 và B41 bò lên, bắn một loạt vào sào huyệt địch ẩn nấp. Tối đó, Đại đội cho biết qua đài thông tuyến của địch, loạt đạn của 4 chúng tôi đã tiêu diệt 35 tên. Tôi lại dẫn 2 tổ gồm 10 chiến sĩ bò lên chốt cũ để lấy xác tử sĩ. Sau khi đưa xác Quảng lên khỏi hầm, cho vào cáng để đưa về tuyến sau thì một quả phóng lựu của giặc nổ gần, bốc tôi lên trời...

Ngày 15-8-1972, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B của Đinh Gia Công được lui về tuyến sau để củng cố, chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tiếp diễn. Anh Đinh Gia Công cho tôi biết, sau 10 ngày chiến đấu, lúc này đơn vị chỉ còn lại 14 người đầy thương tích, trong đó có anh.

Nhật ký của Đinh Gia Công sau đó còn ghi lại những ngày nằm viện và ra miền Bắc điều dưỡng khi ở Quảng Bình, khi ở Nghệ An rồi Thanh Hóa cho đến ngày phục viên (1986).

Đọc nhật ký của anh và cùng anh đến nghĩa trang liệt sĩ xã Phúc Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình thắp nén nhang trên mộ liệt sĩ Nguyễn Hồng Quảng, người đã hy sinh trong chiến đấu giữa chiến hào với anh, lòng tôi vô cùng xúc động. Họ là những hình ảnh đẹp về người lính Cụ Hồ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đinh Gia Công hiện là Phó ban liên lạc chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Anh thường làm thơ, được đăng trên báo, tạp chí của trung ương và địa phương. Năm 2005, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình đã kết nạp anh vào phân ban văn học của Hội. Chia tay, anh đã tặng tôi tập thơ “Một đời đến muộn” (NXB Hội Nhà văn-2008), đó là tập thơ của một người lính viết về đời lính, về những người và những ngày giữ chốt tại chiến trường Thành cổ Quảng Trị tháng 8 năm 1972 với bao tình cảm dạt dào trong sáng với đồng đội, những người đã ngã xuống hôm qua và đang sống hôm nay.

Bài và ảnh: Hồ Ngọc Diệp