 |
|
Sơ đồ chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971 của đoàn Quân Tiên phong, nơi Tình Vũ đã chiến đấu và hy sinh. |
Bạn đọc kính mến! Trang Tiếp lửa truyền thống số trước đã giới thiệu với các bạn chân dung liệt sĩ Trình Văn Vũ tên thường gọi là Tình Vũ cũng như chuyện tình éo le của anh, cưới vợ xong chỉ kịp ở nhà một đêm đã lên đường trở lại chiến trường. Có lẽ vì vậy mà Tình Vũ luôn nhắc đến người vợ Thu Hà như một miền thương nhớ khôn nguôi và cho đến lúc hy sinh, anh vẫn một điều đau đáu: “Hy vọng mùa thu” của Hà - Vũ bị phá vỡ. Cái kế hoạch… ấy không toại nguyện”.
Vậy “hy vọng mùa thu” mà Tình Vũ thường nhắc đến là gì? Bài báo này điểm lại những dòng nhật ký chan chứa tình thương yêu của anh với người vợ trẻ, hy vọng phần nào giải đáp “hy vọng mùa thu”.
Tình yêu chín dưới ánh trăng
Tình Vũ là tiểu đội trưởng một tiểu đội trinh sát của đoàn Quân Tiên Phong, đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, địch luôn đau đầu với một câu hỏi: “Đoàn Quân Tiên Phong đóng ở đâu?”. Vì chúng biết rằng, nơi nào có đoàn Quân Tiên Phong thì nơi đó thường là mũi tiến công chủ yếu, đoàn Quân Tiên Phong di chuyển về đâu là nơi đó, ta mở chiến dịch lớn.
Điều đó cũng có nghĩa rằng, bộ phận trinh sát của Tình Vũ luôn là mục tiêu mà địch đặc biệt chú ý. Không bút nào tả xiết muôn nỗi gian khổ khó nhọc với cái chết luôn cận kề mà Tình Vũ đã trải qua. Những ngày tháng chui sâu vào trận địa địch, nhiều khi thấy cái chết ngay bên mình, Tình Vũ càng ý thức sâu sắc được rằng, phải ghi nhật ký, không phải cho ai mà là để tôi luyện ý chí sắt đá cho mình, và nếu ngã xuống thì hy vọng, nhật ký sẽ về đến tay người vợ mà anh hết mực yêu thương. Mở đầu cuốn nhật ký thứ 4, ghi ngày 22-8-1970, anh đã viết:
“Quyển sổ yêu thương! Mi sẽ là tâm hồn thứ nhất của ta, mi trước hết phải là của ta - sau nữa, mới đến những người thân yêu nhất… Khi, khi ấy nếu ta ngã xuống, máu sẽ nhuộm hồng bìa sổ và tin rằng lúc ấy, người ta sẽ chuyển mi đến Thu Hà yêu quý của ta… Hà sẽ hiểu hơn nữa khi người thân yêu của nàng đem tâm hồn và lòng tin yêu ấy vào nơi khói lửa”.
Theo lời kể của anh Trình Văn Khương, em trai của Tình Vũ thì mối tình Tình Vũ - Thu Hà đã có khúc dạo đầu rất lãng mạn. Hồi ấy, trên đảo Vân Đồn vẫn còn tục “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”. Nhưng Tình Vũ - Thu Hà đến với nhau bằng tình cảm tự nhiên, tình yêu của họ chớm nụ, ươm mầm từ những lần cùng sinh hoạt chi đoàn, những đêm trai gái làng cá Minh Châu cùng nhau nô đùa trên bãi biển quanh làng rì rào sóng hát, và bừng nở qua những lần hẹn hò đầy mơ mộng bên hàng dừa luôn được dát bạc bởi ánh trăng non.
 |
|
Trang đầu mỗi cuốn nhật ký, Tình Vũ luôn tô đậm hai chữ VH (Vũ-Hà). |
Mối tình đầu ấy, đã khắc sâu vào trái tim Tình Vũ, giúp anh vượt qua mọi cám dỗ thông thường. Ngày 29-8-1970, trên đường hành quân vào trận địa, Tình Vũ ở nhờ một nhà dân có cô con gái tên là Chính. Anh viết: “…Chính - cô gái hiền ngoan, dịu dàng. Và đặc biệt là Chính có những nét sinh hoạt giống Hà, từ cách búi tóc, thêu thùa và chiếc giường cá nhân nằm ở đầu nhà...
Lúc 11 giờ đêm mình ra giếng trước nhà rửa tay không ngờ... Chính đứng nép lại gần mình - nhưng tuyệt nhiên mình cố ý lảng ra và xa rời - Chính buồn buồn, khao khát và đáy lòng, con mắt sâu thẳm những ý nghĩ hạnh phúc mà với những người con gái ở tuổi 20 hay bắt gặp… Buồn thật! Trên đời sao cứ tạo cho con người những tình cảm lạ lùng, khao khát ấy!”.
Và anh tự nhủ: “Nếu người bạn trai thiếu nghị lực, đạo lý ươn hèn thì nhất thiết những người con gái như trên sẽ đau xót, ân hận suốt một đời… Mình thông cảm cho Chính lắm… Ừ, thế là mình lại thắng. Tình cảm của Chính càng làm mình hiểu về nỗi lòng của người con gái. Và với Hà! Hà cũng sẽ có những phút xao động như vậy. Mình thương Hà lắm”.
Điều day dứt khôn nguôi
Là một chiến sĩ trinh sát giỏi, hàng chục lần bò vào tận đồn bốt địch để vẽ lại sơ đồ bố trí lực lượng và các ổ đề kháng của chúng, có thể, Tình Vũ có một tinh thần thép trước những “lưỡi hái tử thần”. Thế nhưng, trong nhật ký, cũng có lúc anh bộc lộ phút giây yếu mềm của người con trai khi chưa đem lại hạnh phúc cho người mình yêu. Chỉ ở một đêm duy nhất với vợ, lại chưa kịp làm lễ cưới (mới báo cáo họ hàng hai bên), Tình Vũ luôn day dứt về điều đó. Thật may, trước lúc vào chiến trường, anh đã tự bảo mình: “Đây là cuộc tranh đấu, hãy gạt bỏ hết những gì vụn vặt riêng tư mà xông vào nơi hỏa tuyến… Nơi ấy, một cái trường tôi luyện và thử thách tinh thần của mình”.
Và anh vẫn thường lãng mạn hóa hiện thực trần trụi của cuộc chiến bằng cách mơ về người vợ mọi lúc, mọi nơi. Ngày 17-8-1970 - Anh ghi: “Đêm hôm qua lần mò trong đường giao liên ngập ngụa bùn đất - luôn nghĩ đến Thu Hà - giờ này chắc Hà đã yên giấc ngủ say... Hà hay chăng, người thương của Hà đang lăn lộn trong khuya, ngã lăn lóc trong bùn nhầy nhụa ở những đoạn đường chiến tranh… Hẳn Hà hiểu lắm vì Hà luôn nghĩ đến mình!”.
Hà yêu dấu ơi! Hoàng hôn đã bắt đầu tắt, chim chóc đang xao xác bay về tổ, rừng Trường Sơn tím sẫm bởi ánh nắng nhạt chiều tà gợn sóng nhấp nhô.
Ngồi đây, hồn anh luôn về bên em, trong đêm trăng chúng mình nhẹ nhàng dắt tay nhau rảo bước trên bãi biển quê hương lồng lộng gió ngàn biển cả.
Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn, cuộc chống Mỹ của cả dân tộc thúc giục anh đi cùng đồng đội giữ yên quê nhà, Tổ quốc, giữ cho màu xanh vĩnh cửu quê hương và tình yêu muôn thuở thắm mộng đời, giữ gìn cho gia đình ta, cho cha mẹ ta bình an tuổi già, cho các em ta vui cắp sách đến trường… cho em sống những phút yên lành, em lại êm ái gối trên chiếc gối thơm hương ngào ngạt xõa tóc ngủ ngon lành và mơ những giấc mơ đẹp nhất…”.
Càng đi sâu vào chiến trường, Tình Vũ càng đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách. Theo như nhật ký thì không dưới 10 lần, Tình Vũ suýt hy sinh vì những cơn sốt rét, vì những lần lạc rừng bị đói lả hay những lần trinh sát bị địch phát hiện thấy, Tình Vũ và tiểu đội phải chống trả lại những đội hình địch đông gấp 5, gấp 10 lần cùng máy bay oanh tạc. Vũ biết rằng, sự hy sinh là hầu như không tránh khỏi, anh lại tìm cách tiếp thêm sức mạnh ý chí cho mình bằng cách nuôi giữ những giấc mơ, nhiều lần, anh thốt lên trong trang viết: “Hà ơi! Giá như chúng mình đã có một đứa con gái đầu lòng cùng nhau thì hay biết mấy. Xa anh, em có thể nâng niu giọt máu ấy suốt những quãng ngày dài thương nhớ thiết tha”. (Nhật ký 5-10-1970), “…có những đêm nằm suốt không ngủ nghe gió rừng gào thét mà nhớ Thu Hà với một nỗi nhớ thiết tha cháy bỏng. Mình ao ước và thèm khát có một đứa con - mà lại là một cô con gái nhỏ xinh xắn. Ôi những mộng ước ấy như một làn mây ở cuối trời” (Nhật ký 7-11-1970).
Bí ẩn “hy vọng mùa thu”
Là lính trinh sát nên mỗi lần làm nhiệm vụ là Tình Vũ lại phải tạm chia tay cuốn nhật ký và chiếc ba lô. Tiểu đội anh trang bị gọn nhẹ đến mức tối đa, thường chỉ một cây súng, ít lương khô giắt lưng để chui sâu vào trận địa địch. Có những lần, Tình Vũ viết cho vợ hàng chục lá thư nhưng không gửi đi được lá nào. Còn thư vợ anh cũng nhận được khá nhiều nhưng thường là “liên hoan thư”, tức là thư gửi nhiều lần, nhận dồn một bữa, những lá thư là cầu nối tình cảm duy nhất giữa hai vợ chồng, nhưng sang năm 1971, chiến trường khốc liệt, thư vợ càng khó nhận trong khi thời gian viết nhật ký của Tình Vũ cũng rất hạn hẹp. Mỗi lần đi làm nhiệm vụ, anh thường để đứt quãng nhật ký một hoặc hai tuần, vì thế, những trang viết bắt đầu suy tư nhiều hơn. Anh nhắc đến “hy vọng mùa thu” như một điều hẹn ước giữa hai vợ chồng lúc lên đường…
|
4 năm sau ngày nhận được giấy báo tử Tình Vũ, được sự động viên của gia đình nhà chồng, Thu Hà mới đi bước nữa… Chị xin phép chồng lập bàn thờ Tình Vũ và thường viết “thư cho liệt sĩ”. Nhật ký ngày 24-3-1980 (ngày giỗ của Tình Vũ), Thu Hà ghi: “Tình Vũ ơi! Em chẳng quên anh. Giấc mơ hiền em vẫn gặp anh - anh vẫn dành cho em tình thương ưu ái và anh đã phù hộ cho cuộc sống của em yên lành. Em vẫn là của anh mãi mãi”. |
Cho đến bây giờ, dẫu đọc nhật ký Tình Vũ nhiều lần, nhưng chưa biết rõ “hy vọng mùa thu” thì nhiều đoạn cuối của nhật ký đã hé mở cái điều thầm kín ấy. Nhưng… thật đáng tiếc, thời gian quá eo hẹp khiến Vũ không đủ để trải lòng mình... Đặc biệt, như một dự cảm về sự mất mát mà người vợ hiền phải gánh chịu, nhật ký ngày 23-2-1971, Tình Vũ viết rất kỹ về nỗi đau của người vợ mất chồng: “Ở người vợ, đó là một sự mất mát chua xót và đau thương, một phần đẹp đẽ nhất của cuộc đời, trong đó có cả tuổi trẻ, hạnh phúc, niềm vui đằm thắm và mặn nồng nhất của một đời người bỗng dưng bị cướp mất một khoảng trống mênh mông sâu thẳm.
Từ nay người vợ sẽ phải đương đầu một mình trước mọi bão tố của cuộc sống, dìu dắt mình chỉ còn có kỷ niệm đau xót và đằm thắm của một người bạn đường đã mất, kỷ niệm xa dần của một ánh mắt, một bàn tay nắm chặt, một chiếc hôn thương yêu và khuyến khích một lời nói ân tình. Nỗi đau của người vợ day dứt mà dịu dàng, cắn xé mà da diết. Nỗi đau tan dần đi chậm rãi cùng với thời gian. Rồi cuộc sống mạnh mẽ sẽ lại gọi chị, rụt rè ân hận trong những ngày đầu, rồi tất cả sẽ từ từ biến thành một kỷ niệm mà người vợ, chỉ một mình sẽ nuôi sâu trong đáy lòng suốt đời, nó thức dậy có khi mãnh liệt lạ thường trong những gian nan hay vấp váp hoặc cả trong những phút vui mới xôn xao bước đường của chị”.
Như chúng ta đã biết, Tình Vũ hy sinh ngày 28-2-1971, trang nhật ký của anh dừng lại ba ngày trước đó cũng đã nói cho chúng ta biết: Chiến dịch đang diễn ra rất nhanh, địch rút chạy tháo thân, cả đơn vị hối hả truy kích…
Tình Vũ đã ngã xuống trên đường truy kích địch. Anh không nói rõ điều “hy vọng mùa thu” của hai vợ chồng, cũng như liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc đã chưa kịp nói: “Ngày 30-4-1975 sẽ nói hạnh phúc là gì?”. Đồng đội đã thay lời các anh, giải đáp khát vọng hạnh phúc của tuổi trẻ thời ấy bằng chiến thắng huy hoàng của ngày giải phóng, thống nhất đất nước. Và hy vọng của Tình Vũ, đã mãi mãi là “bí mật” riêng trong mối tình nồng thắm của anh.
Bài và ảnh: HỒNG HẢI