Trong ngắn hạn, nhập siêu tăng là biểu hiện của sự hồi phục kinh tế, nhưng cũng tạo áp lực lên cán cân thanh toán, ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và tỷ giá, gây bất ổn tài chính vĩ mô.
Kiểm soát chưa đạt hiệu quả như mong muốn
Theo số liệu ngày 27-4 của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu tháng 4 ước đạt 5,7 tỷ USD, tăng 1,9% so với tháng 3. Kim ngạch nhập khẩu có thể đạt tới 6,95 tỷ USD và tăng tương ứng khoảng 3%. Như vậy, nhập siêu tháng 4 đã lên khoảng 1,25 tỷ USD, so với 1,16 tỷ USD của tháng 3, 945 triệu USD của tháng 1 và 1,33 tỷ USD trong tháng 2. Tổng cộng nhập siêu bốn tháng qua đạt khoảng 4,65 tỷ USD, chiếm khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu, vượt quá chỉ tiêu Quốc hội khống chế dưới 20%.
Thống kê cũng cho thấy, việc kiểm soát nhập siêu chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Bởi, nhóm cần thiết nhập khẩu chỉ tăng 32,6% nhưng nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu gồm thủy sản, rau quả, các sản phẩm từ thép, đá quý, kim loại quý... lại tăng tới 59% và nhóm hàng hạn chế nhập khẩu (hàng tiêu dùng, ôtô nguyên chiếc dưới 9 chỗ, xe máy nguyên chiếc) tăng tới 41%.
 |
| Kim ngạch xuất khẩu tháng 4 ước đạt 5,7 tỷ USD |
Trong một bài viết mới đây, ông Phí Đăng Minh-Vụ Quản lý ngoại hối loại bỏ khả năng chính sách tỷ giá là nguyên nhân chính gây thâm hụt thương mại của Việt Nam. Theo ông, chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã có sự điều chỉnh căn bản, đã nêu rõ nguyên tắc xác định tỷ giá, tính thị trường được thừa nhận, sự điều tiết của nhà nước là khá rõ, quyền tự chủ của ngân hàng thương mại được đề cao, ngân hàng nhà nước đã tôn trọng cơ chế thị trường và chủ động trong việc điều hành tỷ giá phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ và tăng trưởng kinh tế. Chính sách tỷ giá điều hành dựa trên quan hệ cung cầu, có sự điều chỉnh linh hoạt là đúng đắn.
Theo ông Minh, nguyên nhân thâm hụt thương mại gia tăng trong những năm gần đây đã được nhóm chuyên gia quốc tế và Việt Nam phản ánh khá đầy đủ trong bản báo cáo phân tích thâm hụt thương mại thuộc dự án hỗ trợ thương mại đa biên. Đó là có sự bất cập mang tính chất cơ cấu dẫn đến sự mất cân đối thương mại của Việt Nam, làm hạn chế khả năng gia tăng xuất khẩu nhanh hơn so với nhập khẩu.
Khó cải thiện nhập siêu
Ông Minh cho rằng: “Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức cao chiếm khoảng 2/3 giá xuất xưởng, dẫn tới thực tế là nếu muốn tăng xuất khẩu thì nhất thiết phải tăng nhập khẩu”. Nguyên nhân là do Việt Nam đầu tư quá ít vào phát triển các ngành phụ trợ, khiến ta vẫn chỉ là nơi gia công, lắp ráp cho nước ngoài, sản phẩm không có hàm lượng giá trị gia tăng cao. Thêm vào đó, chúng ta còn phải thực hiện giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết quốc tế, trong khi giá nguyên vật liệu thế giới leo thang kéo giá trị nhập khẩu tăng theo. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế lại làm thu hẹp khả năng xuất khẩu của Việt Nam…
Trong khi đó, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều tăng bình quân 40%/năm. Năm 2008 con số này đạt 21,659 tỷ USD, năm 2009 đạt 20,751 tỷ USD, hết quý I năm 2010 là 5,37 tỷ USD, tăng 37,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhưng điểm đáng chú ý là Việt Nam nhập siêu từ Trung quốc ngày càng lớn về giá trị, và chiếm phần lớn tổng nhập siêu của Việt Nam (năm 2001 là 18,7 %, năm 2007 là 73,7%, năm 2008 là 69,8%, năm 2009 là 97,1% và dự đoán năm 2010 là 94,4%).
Trong khi ta luôn xuất siêu sang Mỹ, Anh, Đức, Australia, song nhập siêu từ Trung Quốc ngày một tăng cao. Do đó muốn hạn chế nhập siêu, Việt Nam cần có những biện pháp hiệu quả để giảm thâm hụt thương mại với Trung Quốc.
Thêm vào đó, việc USD mất giá so với VND trong thời gian gần đây khiến hàng hóa nhập khẩu rẻ đi tương ứng, tạo lợi thế cạnh tranh tốt hơn tại thị trường trong nước.
Mặt khác, giải ngân vốn FDI tăng mạnh trong vài tháng trở lại đây. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, nguồn vốn này đã đạt 3,4 tỷ USD trong 4 tháng qua. Và nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI (có liên quan đến nhập khẩu thiết bị trong giai đoạn đầu tư cơ sở sản xuất và trang thiết bị…) cũng tăng mạnh kể từ đầu năm nay.
Ngoài ra, vàng cũng tác động nhất định trong quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam. Năm ngoái, Việt Nam tái xuất vàng với khối lượng khá lớn, nhưng sang năm nay, chúng ta lại nhập nhiều tỷ USD vàng, dẫn đến những thiên lệch đáng kể trong cán cân thương mại.
Nhập siêu và mục tiêu
Trả lời báo chí, GS-TS Nguyễn Mại, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư cho rằng, đánh giá nhập siêu không nên chỉ nhìn vào con số của từng tháng, mà phải nhìn vào cơ cấu nhập siêu.
GS-TS. Nguyễn Mại phân tích: “Hiện nay, nếu nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu cho sản xuất, thì là điều đáng mừng, bởi có nghĩa là sản xuất đang hồi phục tốt. Công nhân may đang làm không hết việc, do vậy chuyện nhập khẩu nhiều vải, nguyên phụ liệu dệt may là dễ hiểu”.
Quả thực, nếu xét trên khía cạnh này, có nhiều điều để mừng khi nhìn vào danh mục thống kê các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong 4 tháng đầu năm. Cụ thể, các doanh nghiệp đã chi 2,73 tỷ USD để nhập khẩu các loại bông, sợi dệt, vải, nguyên phụ liệu dệt may, da giày (tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2009). Trong khi đó, hơn 4 tỷ USD được dành cho nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị. Còn nhập khẩu chất dẻo và sản phẩm chất dẻo xấp xỉ 1,5 tỷ USD. Như vậy, chỉ tính riêng nhập khẩu 3 nhóm mặt hàng này, kim ngạch đã lên tới trên 8 tỷ USD, bằng hơn 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Và như phân tích của GS-TS. Nguyễn Mại, đi kèm với kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh, chắc chắn sẽ là những hoạt động sản xuất - kinh doanh sôi động. Đó là một thực tế, bởi số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong 4 tháng đầu năm, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu được trên 3 tỷ USD sản phẩm dệt may và trên 1,35 tỷ USD sản phẩm giày dép. Sự tăng mạnh nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị, đặc biệt là với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chính là một trong những kết quả của việc giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với những tín hiệu rất tích cực trong những tháng đầu năm.
Mặc dù vậy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ Công thương), vẫn bày tỏ sự băn khoăn về tính hai mặt của nhập siêu. Thứ nhất, nhập siêu tăng là biểu hiện của sự hồi phục kinh tế. Nhưng nhập siêu tăng cũng tạo áp lực lên cán cân thanh toán, ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và tỷ giá, gây bất ổn tài chính vĩ mô (khi mức nhập siêu liên tục vượt ngưỡng an toàn 20% kim ngạch xuất khẩu).
Và để hạn chế nhập siêu các chuyên gia kinh tế thường nhắc tới một công cụ quan trọng là công nghiệp phụ trợ. Theo họ, phát triển ngành công nghiệp này sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời “điều trị được cả các căn bệnh” khác như lạm phát, tỷ giá, các ràng buộc phi kinh tế..., tránh cái vòng luẩn quẩn là “càng nỗ lực xuất khẩu thì nhập siêu càng lớn”. Các chuyên gia kinh tế cho rằng về lâu dài, công nghiệp phụ trợ mới là công cụ giải quyết cơ bản tình trạng nhập siêu vốn rất nặng nề hiện nay của Việt Nam./.
Theo VOV