QĐND - Đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư nhiệm kỳ đầu tiên của thời kỳ đổi mới, khi đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc; hệ thống chủ nghĩa xã hội đang khủng hoảng trầm trọng. Điều này đặt trên vai người đứng đầu của Đảng trọng trách nặng nề, đòi hỏi ở người lãnh đạo một trí tuệ sáng suốt, tư duy đột phá và bản lĩnh kiên định để đưa đất nước vượt qua tình thế hiểm nghèo, ổn định tình hình và phát triển đi lên.

Sau khi đất nước thống nhất, do việc duy trì quá lâu cơ chế quan liêu, tập trung, bao cấp và nóng vội “đốt cháy giai đoạn” trong đường lối và hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về tình hình kinh tế-xã hội của đất nước. Đỉnh cao vào những năm 1987-1988, dự trữ quốc gia gần như cạn kiệt, lạm phát với tốc độ phi mã, lên tới 774,7%, gần 7 triệu người thiếu đói, lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ giảm sút. Cùng với đó là sự bao vây, cấm vận của Mỹ và tình trạng khủng hoảng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Nhân cơ hội này, các lực lượng phản động ra sức tuyên truyền, gây chia rẽ trong Đảng, gây bất mãn trong nhân dân, đòi đa nguyên, đa đảng. Trong nội bộ Đảng, một số đảng viên dao động, xuất hiện tư tưởng hữu khuynh, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, muốn từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, nhưng “mới nêu được những phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, còn nội dung, hình thức, bước đi và cách làm cụ thể thì còn nhiều và chưa giải đáp được thỏa đáng cả về lý luận lẫn thực tế”(1). Trong tình thế hiểm nghèo đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, một mặt ra sức tìm tòi, cụ thế hóa đường lối đổi mới của Đại hội VI bằng cơ chế, chính sách, bước làm, cách đi phù hợp, mặt khác kiên trì những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo sự nghiệp đổi mới nhằm giữ vững định hướng chính trị cho toàn Đảng, toàn dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thăm và làm việc tại tỉnh Lạng Sơn, tháng 4-1991. Ảnh tư liệu

Kiên trì đổi mới có nguyên tắc

Thấu hiểu tình hình khó khăn ở trong nước và sự phức tạp của tình hình quốc tế lúc bấy giờ, đồng thời nhận thức rõ tính chất phức tạp, lâu dài của công cuộc đổi mới, ngay từ những năm đầu đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nhấn mạnh đến việc phải quán triệt những nguyên tắc cơ bản của công cuộc đổi mới, nhằm bảo đảm con đường tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Đồng chí luôn nhấn mạnh đến mục tiêu, nội dung của công cuộc đổi mới là “đặc tính của cách mạng, nhất là cách mạng xã hội chủ nghĩa, là bản chất sâu xa của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, là xu thế tất yếu của thời đại”(2). Muốn công cuộc đổi mới giành thắng lợi, trước hết, đổi mới phải khẳng định sự lãnh đạo của Đảng bởi “sự lãnh đạo của Đảng với xã hội ta là một tất yếu khách quan” “không phải và cũng không thể là sự áp đặt ý chí chủ quan của Đảng với lịch sử”, mà “đó là sự giao phó của lịch sử thông qua sự sàng lọc nghiêm khắc”(3).

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trì đã đề ra những nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo công cuộc đổi mới:

- Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện bằng những hình thức, biện pháp, bước đi phù hợp.

- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn là nền tảng kim chỉ nam của Đảng, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng đắn về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo chứ không phải xa rời nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

- Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền dân chủ nhân dân, nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản.

- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ với nhân dân, nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh và trật tự xã hội.

- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế xã hội chủ nghĩa; kết hợp với sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.

Việc đề ra và thực hiện những nguyên tắc trên giúp cho công cuộc đổi mới ở nước ta tránh sai lầm và hậu quả như ở Liên Xô và Đông Âu, giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Đấu tranh kiên quyết với những quan điểm sai trái

Thời kỳ này, do những khó khăn trong nước và chịu ảnh hưởng quan điểm tuyên truyền xuyên tạc, lệch lạc của các thế lực phản động, trong nhân dân và trong Đảng, những tư tưởng hữu khuynh, chống chủ nghĩa xã hội xuất hiện và có cơ hội phát triển. Về kinh tế, họ cho rằng: Từ nay không cần tính chất xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa đối với doanh nghiệp, miễn là sản xuất đi lên, đời sống nhân dân được bảo đảm. Về chính trị, họ cho rằng Đảng ta thiếu dân chủ và cần thiết lập chế độ nhiều Đảng. Thậm chí có người nhân cơ hội này muốn lôi kéo trí thức, thanh niên, sinh viên “khuấy động dân chủ”.

Đấu tranh với quan điểm sai trái đó, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nêu lên lập luận sắc bén, xác đáng, phản bác những điểm sai lầm. Đồng chí cho rằng, mỗi chế độ xã hội đều có một chế độ sở hữu và quan hệ sản xuất chủ đạo. Đại diện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Vì nhiều lý do khác nhau mà không thể phủ nhận hiện nay nó còn nhiều mặt yếu kém. Thái độ đúng đắn lúc này không phải là phủ định nó mà tìm cách đổi mới, giúp nó trụ vững và đi lên.

Về chính trị, đồng chí khẳng định đa nguyên, đa đảng đối lập sẽ dẫn đến hỗn loạn, dẫn tới không thống nhất trong tư tưởng và hành động. Và “một chế độ dân chủ chân chính không phải được quyết định ở chỗ có một hay nhiều đảng. Vấn đề ở chỗ nền dân chủ hình thức hay có thực chất, dân chủ cho một thiểu số hay đa số nhân dân. Nắm vững chân lý sơ đẳng này có ý nghĩa nguyên tắc để không bị tuyên truyền về dân chủ tư sản mê hoặc và lừa mị chúng ta”(4).

Vấn đề đa nguyên, đa đảng sau đó tạm lắng thì một luận điệu mới là đa ý kiến lại bùng lên. Đồng chí Nguyễn Văn Linh chỉ rõ: Đa nguyên ý kiến, nhìn bên ngoài tưởng nhỏ nhặt, có vẻ nhẹ nhàng, dễ lọt tai hơn, nhưng kỳ thực nó là phiên bản khác tinh vi hơn của đa nguyên, đa đảng. Đa nguyên ý kiến dẫn tới Đảng có phái, các bè cánh, phá vỡ nguyên tắc “tập trung dân chủ”-nguyên tắc hàng đầu của đảng mác-xít, tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng ta.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh không chỉ bày tỏ quan điểm, mà còn lãnh đạo và tổ chức thực hiện đưa các quan điểm trên vào cuộc sống. Cùng với việc tạo điều kiện kinh tế cá thể, kinh tế tư bản phát triển, đồng chí dành nhiều tâm sức để củng cố phát triển kinh tế quốc doanh và tập thể. Đảng và Nhà nước đưa ra nhiều chính sách biện pháp giúp đỡ, như giúp đầu tư vốn, cải tiến quản lý xí nghiệp…, nhờ vậy ngăn chặn được tình trạng tụt dốc của xí nghiệp quốc doanh, một số đứng vững và phát triển. Với hợp tác xã, Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết khoán 10 về nông nghiệp, thay vì ăn chia theo công điểm mà chuyển sang khoán nhóm và hộ gia đình; nhờ đó, từ chỗ thiếu lương thực triền miên, năm 1989, nước ta lần đầu tiên trở thành nước xuất khẩu gạo.

Để khởi động cho công cuộc đổi mới, phải khắc phục sức ì do cơ chế cũ tạo ra trong tư duy, hành động và nếp nghĩ của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng chí Nguyễn Văn Linh phát động và đi tiên phong đổi mới phong cách lãnh đạo “nói thẳng nói thật”, đả phá mạnh mẽ sự bảo thủ, trì trệ vô trách nhiệm trong lãnh đạo quản lý và công tác thực tiễn: “Muốn tháo gỡ mọi khó khăn hiện nay, tất cả các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương phải đấu tranh gạt bỏ mọi ràng buộc, mọi sự bảo thủ trì trệ” và “Đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc, triệt để… Người lãnh đạo mà bảo thủ, sai lầm, không chấp nhận đổi mới thật sự không thể lãnh đạo được”(5).

Theo đồng chí Nguyễn Văn Linh, việc đấu tranh với quan điểm sai lầm, phải đi đôi với việc tăng cường mở rộng dân chủ, thực sự giải phóng tư tưởng, tôn trọng những tìm tòi sáng tạo, biết lắng nghe, biết tranh luận để nhận rõ chân lý, phân biệt đúng sai, phải trái. Hội nghị Trung ương 8, khóa VI đã phê phán mạnh mẽ các quan điểm cực đoan, nóng vội, bảo thủ, trì trệ và tập trung chống hữu khuynh, xét lại đa nguyên chính trị và quyết loại ra khỏi Đảng những phần tử chống Đảng, thi hành kỷ luật rất nghiêm minh với phần tử này.

Nghiêm túc tự phê bình và phê bình trong Đảng

Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, Đảng phải nhìn thẳng vào sự thật, phải thấy thiếu sót, hạn chế và phải có tinh thần dũng cảm để tự phê phán, tự đổi mới. Đồng chí Nguyễn Văn Linh chỉ rõ những phát sinh tiêu cực, tồn tại và ngày càng phát triển trầm trọng trong Đảng vào những năm sau thống nhất. Đồng chí nêu rõ, cuộc đấu tranh chống những biểu hiện hư hỏng trong bộ máy và cán bộ là “một công việc không dễ dàng, chúng ta phải kiên định, quyết tâm tiến hành cuộc đấu tranh mạnh mẽ này”(6).

Đồng chí thẳng thắn chỉ ra tình trạng yếu kém của công tác lý luận trong Đảng, “thường chỉ dựa vào nguyên lý phổ biến có trong sách vở, trong khi nghiên cứu đề xuất từ thực tế cuộc sống thì quá ít. Nặng về nêu cao ưu điểm, còn nhẹ về phân tích, phê phán có sức thuyết phục các khuyết điểm, nhược điểm;… ít mở rộng ra tầm nhìn cả nước và thế giới để nỗ lực kế thừa trí tuệ của thời đại”(7). Trong các nguy cơ, nguy cơ lạc hậu, tụt hậu về trí tuệ được người lãnh đạo Đảng nhận thức và nêu ra từ rất sớm.

Đồng chí cũng là người sớm chỉ ra căn bệnh hình thức trong đấu tranh phê bình và tự phê bình. Trong nhiệm kỳ lãnh đạo của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh không chỉ đôn đốc việc tự phê bình và phê bình từ dưới lên, mà cả từ trên xuống. Đồng chí đã tổ chức việc kiểm điểm cá nhân, từ Tổng Bí thư đến các Ủy viên Bộ Chính trị, về công tác lãnh đạo, ý thức tổ chức kỷ luật, đạo đức lối sống...; đồng thời chỉ ra rằng, trong quá trình lãnh đạo, Đảng không thể không phạm sai lầm. Sự thừa nhận công khai sai lầm không phải làm Đảng yếu đi, mà là dấu hiệu một đảng chân chính và cách mạng, biết tin ở mình và tin ở nhân dân. Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi Đảng cũng như mỗi cán bộ đảng viên phải tự đổi mới không ngừng; trước hết là đổi mới nhận thức, phải học tập không ngừng để nâng cao trình độ lý luận và vận dụng vào công tác thực tế, khắc phục chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều; đồng thời rèn luyện đạo đức cách mạng bởi “Trình độ trí tuệ dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là một nhân tố trong những điều kiện cần có của cán bộ. Chú ý rằng, phẩm chất cách mạng mới là yếu tố hết sức cơ bản”(8).

Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trong 5 năm đầu của công cuộc đổi mới, nền kinh tế xã hội nước ta bước đầu thoát khỏi khủng hoảng, chính trị ổn định. Mọi âm mưu chia rẽ Đảng, đòi đa nguyên về chính trị, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân đều bị dập tắt. Đánh giá 5 năm thực hiện đổi mới, đồng chí chỉ rõ, cần thấy cho hết những khó khăn, thách thức, đồng thời cũng phải thấy thành tựu và nhân tố mới để rút kinh nghiệm, tiếp tục phát triển. Đó là giữ vững tư duy độc lập sáng tạo, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, kịp thời phát hiện và giải quyết đúng đắn các vấn đề phát sinh trên tinh thần kiên định đường lối đổi mới, tăng cường tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn chỉnh lý luận và con đường lên chủ nghĩa xã hội.

LÊ THỊ HẰNG, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

 (1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, 1987, tr. 24

(2) Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lên, Nxb Sự thật, H, 1991, t. 1, tr. 7

(3) Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lên, Sđd, t. 1, tr. 15.

(4) Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lên,Sđd, t. 1, tr. 16.

(5) Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lên, Sđd, t. 3, tr. 162.

(6) Nguyễn Văn Linh: Đổi mới sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động, Nxb Sự thật, H, 1987, tr. 9.

(7) Nguyễn Văn Linh: Về Công tác quần chúng, Nxb Sự thật, H, 1987, tr. 95-96.

(8) Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lên, Sđd, t. 1, tr. 39