 |
| Cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong. Ảnh: Tư liệu |
Luôn quên mình phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, kiên cường bất khuất trước kẻ thù, một lòng tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, đồng chí Lê Hồng Phong khiến mọi người cảm phục về tinh thần chiến đấu hy sinh của người cộng sản.
Sinh ra ở một vùng quê nghèo, là một người thông minh, hiếu học nhưng gia đình khó khăn, Lê Hồng Phong phải rời quê, (làng Thông Lạng, nay thuộc xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), lên làm việc ở Vinh - Bến Thủy. Cuối năm 1923, đồng chí cùng Lê Huy Doãn tìm đường qua Xiêm, sang Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động và được kết nạp vào nhóm Tâm Tâm xã, một tổ chức tập hợp những thanh niên yêu nước đánh Pháp giành độc lập. Từ Mát- xcơ-va lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vui mừng nhận thấy đây là một “cánh chim báo tin vui” và cuối năm 1924, Người đến Quảng Châu bắt liên lạc với Tâm Tâm xã, nhanh chóng xúc tiến công tác đào tạo huấn luyện những lớp cán bộ đầu tiên cho cách mạng Việt Nam. Đồng chí Lê Hồng Phong là một trong số 5 người được Bác lựa chọn đầu tiên.
Những năm 1925 - 1931 Lê Hồng Phong tích cực học tập chính trị và quân sự. Đồng chí đã học tại trường quân sự Hoàng Phố, trường Hàng không Quảng Châu, trường Lý luận quân sự không quân Lê-nin-grát, trường đào tạo phi công quân sự Liên Xô; Trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản (khóa 1928 - 1931). Dù học tập ở trường quân sự hay chính trị, Lê Hồng Phong với tư chất thông minh, ham học hỏi nên các môn học luôn đạt kết quả tốt, khi trở về nước đủ sức giải quyết những vấn đề đang đặt ra với cách mạng Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn.
Tháng 11-1931, Lê Hồng Phong được Quốc tế cộng sản giao trách nhiệm chắp nối cơ sở cách mạng để thành lập Ban chỉ huy ở ngoài cuả Đảng có vai trò như một Ban chấp hành Trung ương lâm thời để chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước đang còn chưa hồi phục sau những năm bị khủng bố trắng. Sau nhiều bước tìm đường gian nan, lọt qua lưới săn lùng của mật thám, tháng 4-1932, đồng chí về Nam Ninh (Trung Quốc) tìm cách bắt liên lạc, gây dựng lại cơ sở cách mạng ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Lào và Xiêm. Trong điều kiện rất khó khăn của những năm tháng gian truân đó, những cố gắng không mệt mỏi cuả đồng chí Lê Hồng Phong đã đạt nhiều kết quả. Tại Nam Ninh, đồng chí đã thành lập được chi bộ đảng, lập các Ban cán sự Đảng ở Cao Bằng, Lạng Sơn; cử người về chắp mối liên lạc ở Hà Nội, Hải Phòng, Hòn Gai...
Tháng 4-1934, tại Hội nghị Ban lãnh đạo ở ngòai của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí được bầu là Bí thư, chỉ đạo việc xúc tiến thành lập lại các Xứ uỷ trong nước và quyết định tổ chức Đại hội Đảng. Đại hội Đảng lần thứ nhất họp tại Ma Cao từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935 đã bầu đồng chí Lê Hồng Phong vào Ban chấp hành (BCH) Trung ương, đứng đầu danh sách ban lãnh đạo mới của Đảng, mặc dù khi đó đồng chí đã lên đường đi dự Đại hội VII Quốc tế cộng sản.
Tại Đại hội VII Quốc tế cộng sản (tháng 7-1935), những vấn đề được nêu trong báo cáo của đồng chí Lê Hồng Phong trước Đại hội giúp cho Ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản và các đảng cộng sản khác hiểu rõ hơn về Đảng cộng sản Đông Dương và cuộc đấu tranh của những người cộng sản Đông Dương, góp phần cho Quốc tế cộng sản hoạch định chiến lược chung cho các nước thuộc địa khi tình hình mới đang đòi hỏi tập trung lực lượng của toàn nhân loại chống chủ nghĩa phát xit và chiến tranh. Đồng chí Lê Hồng Phong - Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương - được bầu là Ủy viên Ban chấp hành quốc tế cộng sản. Khi đó đồng chí mới 33 tuổi.
Sự chuyển hướng chiến lược của Quốc tế cộng sản trong Đại hội VII đã được Lê Hồng Phong kịp thời truyền đạt, góp phần chỉ đạo Cách mạng Việt Nam. Tháng 7 - 1936, đồng chí chủ trì Hội nghị Ban chấp hành (BCH) Trung ương Đảng tại Thượng Hải (Trung Quốc), Từ những chỉ dẫn chung nhất của Quốc tế cộng sản, đồng chí và BCH Trung ương Đảng đã căn cứ vào tình hình cụ thể ở Đông Dương để tìm ra tên gọi cũng như hình thức thích hợp cho Mặt trận nhân dân chống đế quốc và chiến tranh, đóng góp vào kho tàng kinh nghiệm cách mạng thế giới những kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam trong việc tập hợp lực lượng đấu tranh đòi dân chủ ở một nước thuộc địa, thể hiện một tư duy chính trị độc lập, sáng tạo trong việc vận dụng lý luận vào thực tiễn cách mạng.
Tháng 6-1938, đồng chí bị địch bắt, kết án 6 tháng tù giam, 3 năm quản thúc. Hết hạn tù, chúng trục xuất đồng chí về quê. Mặc dù bị quản thúc chặt chẽ, đồng chí vẫn duy trì liên lạc với Đảng, viết nhiều bài cho báo Dân chúng là cơ quan ngôn luận công khai cuả Đảng ta lúc đó. Và ngày 29-9-1939, Lê Hồng Phong lại bị địch bắt giam vào Khám Lớn (Sài Gòn), cuối năm 1940, bị kết án 5 năm khổ sai đày ra Côn Đảo.
Tại Côn Đảo, biết Lê Hồng Phong là lãnh đạo cao cấp của Đảng nên những tên cai ngục đánh đập hành hạ đồng chí rất dã man. Bất khuất trước mọi thủ đoạn cuả kẻ thù, đồng chí tích cực động viên và chỉ đạo anh em đấu tranh chống địch đánh đập, chống lại những luật lệ hà khắc của nhà tù. Nhiều thế hệ tù nhân Côn Đảo còn kể lại cho nhau chuyện bát cơm chan máu của đồng chí Lê Hồng Phong dưới sự khủng bố dã man của kẻ thù và câu trả lời đanh thép của đồng chí: “Chúng tao phải ăn để có máu chống lại chúng mày...”. Sức khoẻ suy kiệt dần vì đòn thù, vì bệnh tật, Lê Hồng Phong đã trút hơi thở cuối cùng ngày 6-9-1942 với lời nhắn lại bạn tù: Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng.
Tấm gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Lê Hồng Phong đã làm sáng lên chân lý: Gươm giáo kẻ thù có thể chặt đứt thép gang, nhưng chúng sẽ oằn đi khi chặt phải dũng khí của người cộng sản. Đồng chí Lê Duẩn từng kể lại rằng: Ông Nguyễn An Ninh - nhà trí thức yêu nước dân chủ nổi tiếng, bạn tù Côn Đảo cùng nhiều chiến sĩ cộng sản đã rất kính trọng và gọi đồng chí Lê Hồng Phong là một nhà đạo đức cách mạng tiêu biểu...
NGÔ VƯƠNG ANH