May xuất khẩu. Ảnh: Internet

Văn minh công nghiệp của người lao động trong toàn xã hội, trong đó có lao động khu vực nông thôn, đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia. Trong một phạm vi hẹp, văn minh công nghiệp chính là những chuẩn mực tiên tiến thể hiện trong tác phong, lối ứng xử, trách nhiệm với công việc và ý thức làm chủ của người lao động.

Ở nước ta cho đến nay, đáng tiếc vẫn được coi là nước nông nghiệp với tỷ lệ khoảng từ 60 đến 80% lao động liên quan đến nghề nông, bao gồm sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, diêm dân, ngành nghề tiểu thủ công... Sở dĩ nói “đáng tiếc” không phải vì bản thân nghề nông mà vì những hạn chế trong việc công nghiệp hóa nghề nông. Một khi đã đạt đến một trình độ cao về công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp, chúng ta sẽ có cơ hội tiệm cận đến văn minh công nghiệp, phát triển đất nước lên một tầm cao mới.

Tác phong làm việc được coi là đạt chuẩn mực tiên tiến, thể hiện ở nhiều khía cạnh như ý thức về thời gian, giờ giấc, trách nhiệm, sự tự giác, tính kỷ luật... Người lao động chưa có tác phong công nghiệp thì đi muộn, về sớm, thu hẹp thời gian thực tế sản xuất; thời gian dành cho làm việc bị phân tán bởi những hành vi phi lao động khác, như tán chuyện, uống nước, hút thuốc hay thói lề mề, chậm chạp. Nghĩa là, thời gian dành cho “thực việc” đã bị cắt xén. Ông cha ta có câu “Sáng dũa cưa, trưa mài đục” là muốn nói tới điều này, và hiển nhiên đó không phải là văn minh công nghiệp.

Cũng về vấn đề chưa có tác phong công nghiệp, có thể kể đến sự thiếu hiểu biết về lựa chọn, thẩm định “đầu vào” nguyên vật liệu, thiếu kiến thức để làm ra sản phẩm theo một tiêu chuẩn chất lượng nào đó. Ví dụ, căn cứ vào điều kiện thổ nhưỡng, phải sử dụng giống cây trồng, các chế phẩm nông nghiệp thích hợp đã được tính toán, phân loại bởi các chuyên gia nông nghiệp, nhưng vì nghĩ “trăm hay không bằng tay quen”, lối nghĩ tào phào, đại khái, người nông dân lại “tặc lưỡi” mang loại khác ra thay thế. Hậu quả là sản phẩm sẽ đạt năng suất thấp, thậm chí là thất thu. Suy cho cùng, đó chính là lề lối làm việc thiếu văn minh công nghiệp như vậy và hệ lụy của nó là không lường hết được.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, dường như người nông dân chưa chú tâm nhiều đến ứng xử, giao tiếp trong công việc. Ở đây nên được hiểu là quan hệ lao động, kỷ luật lao động, ý thức làm việc theo nhóm... Thiếu văn minh công nghiệp ở khía cạnh này thể hiện ở chỗ bất chấp mối quan hệ hữu cơ giữa các khâu lao động, mạnh ai nấy làm, không ai phục ai… Chẳng hạn, khi đã cơ giới hóa nông nghiệp, trong khâu gieo cấy phải bảo đảm chuẩn về khoảng cách, mật độ cây trồng tương ứng với yêu cầu khâu thu hoạch. Nếu không làm như vậy, thay vì sử dụng máy gặt đập liên hoàn để tăng năng suất lao động, lại phải sử dụng cách thu hoạch thủ công, chỉ vì phân bố cây trồng trên đồng ruộng không tương thích với máy móc. Nếu chưa đủ tầm văn minh công nghiệp, bất chấp kỷ luật lao động, gieo cấy sai thời vụ dẫn đến không tránh được thời tiết xấu, không lợi dụng được thiên thời, địa lợi cho cây trồng. Kết quả là cây trồng đã không phát triển được, lại bị sâu rầy phá hoại, dẫn đến thất bát cho mùa vụ.

Trách nhiệm với công việc, ý thức làm chủ của người lao động đánh giá cấp độ văn minh công nghiệp khá rõ rệt. Để đạt đến “đẳng cấp cao” của văn minh công nghiệp, người lao động phải hết mình với công việc được giao, với ý thức như làm việc đó cho chính mình, vì sự sống còn của mình. Thiếu văn minh công nghiệp là chỉ làm việc khi có sự giám sát của người khác. Và khi thiếu giám sát, là sao nhãng công việc, làm ẩu cho qua chuyện. Rõ ràng, khi đã có trách nhiệm và ý thức tự giác, người lao động luôn hoàn thành được nhiệm vụ của mình ở mức độ cao nhất. Chính điều đó mang lại năng suất lao động cao, góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng mức độ cạnh tranh của hàng hóa... đẩy nhanh sự phát triển của đất nước.

Mỗi cá nhân phải tự mình hoàn thiện nhân cách, kỹ năng lao động để thực sự trở thành những con người văn minh công nghiệp.

PHẠM NGỌC HÙNG