 |
|
Mặc dù doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn cấp bách nhưng các ngân hàng vẫn giải quyết từ từ, chậm rãi |
Theo TS Cao Sĩ Kiêm, mặc dù doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn cấp bách nhưng các ngân hàng vẫn giải quyết từ từ, chậm rãi. Nhiều doanh nghiệp muốn vay vốn nhưng lại không đủ điều kiện vay.
Trước tình hình kinh tế khó khăn, Chính phủ đã có các giải pháp quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp (DN): bảo lãnh cho DN vay vốn của ngân hàng thương mại theo Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg; cho DN vay thanh toán lương, bảo hiểm xã hội (BHXH), trợ cấp thôi việc; bù lãi suất cho các khoản vay; cho vay Chương trình kiên cố hoá kênh mương; Điều chỉnh lãi suất cho các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước; Hỗ trợ giảm nghèo.
Triển khai chậm, DN lại thiếu nhiều điều kiện
Đến nay đã hết quí I/2009, tuy nhiên theo TS Cao Sĩ Kiêm - Chủ tịch Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam: “Các chương trình này tạo tiền đề cho lối ra của nền kinh tế, tạo khí thế, niềm tin trong dân. Thế nhưng, tất cả các biện pháp này vừa qua chúng ta triển khai chưa tương xứng, chưa đi kịp, chưa bắt nhịp một cách đầy đủ yêu cầu cấp bách thực tiễn đặt ra. Nhiều khó khăn cấp bách nhưng chúng ta vẫn giải quyết từ từ, chậm rãi, thủ tục giải quyết còn nhiều vấn đề”.
Theo phân tích của ông Cao Sĩ Kiêm, trong thời điểm rủi ro cao thì ngân hàng bảo lãnh và ngân hàng bị bảo lãnh cũng như DN đều phải tính toán, điều kiện an toàn đặt lên số 1. Tuy nhiên, nếu các vướng mắc này được tháo gỡ nhanh thì các DN đỡ mất thời cơ và tình hình bớt khó khăn hơn hiện nay.
Ông Nguyễn Quang Dũng - Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cho biết: Các DN đề nghị VDB bảo lãnh phần lớn không sẵn sàng các điều kiện để vay vốn của các NHTM. Nếu họ có đủ đủ điều kiện về tài sản thế chấp, không có nợ quá hạn (hoặc có nợ quá hạn nhưng có giải pháp, dự án hiệu quả trả được nợ quá hạn sẽ được bảo lãnh) thì các NHTM sẵn sàng cho vay. Các DN đó phần lớn là những DN khó khăn nhất của nền kinh tế (hiện có khoảng 220.000 DN, trong đó 95% là DNVVN). Thực tế, nếu DN tiếp cận được vốn thì hoàn toàn có thể phục hồi được sản xuất.
Để minh chứng rõ hơn cho phân tích của mình, ông Dũng lấy ví dụ về một DN ở thành phố Hồ Chí Minh. DN này đã dừng sản xuất và được VDB cho vay bảo lãnh. Đến nay, DN đã phục hồi sản xuất được 2 tháng, tạo được việc làm cho công nhân.
Nhưng xem ra, đến thời điểm này theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì đối tượng vay vốn khó khăn nhất vẫn là các hợp tác xã khu vực nông thôn vì họ không có tài sản thế chấp. Khi Ngân hàng đòi các dự án khả thi thì lại là điều “không tưởng” vì phần lớn thành viên của các hợp tác là người nghèo, trình độ thấp.
Ông Nguyễn Quang Dũng cũng thừa nhận: “Năng lực lập dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã chưa cao, do vậy việc hoàn chỉnh hồ sơ còn nhiều lúng túng, mất nhiều thời gian”.
Các chuyên gia kinh tế thế giới đánh giá Việt Nam có tiềm năng phát triển tốt trong trung hạn và dài hạn. Để phát huy được lợi thế này, theo ông Cao Sĩ Kiêm, ngay bây giờ phải có cái nhìn về thời kỳ hậu khủng hoảng. Hiện tại, chúng ta có những giải pháp bao cấp đến khi kinh tế phục hồi phải rút lại những giải pháp này. Khi đó sẽ có những lỗ hổng lớn về kinh doanh, các khoản cho vay, cách làm ăn… Các NHTM phải đối phó với dư nợ, phải trở lại cạnh tranh bình thường. Vì thế, các NH phải nghĩ đến việc cơ cấu lại hoạt động của mình, nếu không chuyển kịp sẽ hạn chế sức vươn lên.
Cho vay trả lương – DN sao không “mặn mà”?
Tại VDB, đến nay qua kiểm tra hồ sơ vay vốn của các DN gửi đến để vay thanh toán lương, BHXH, trợ cấp thôi việc theo Quyết định số 30/2009-QĐ-TTg, có 37 DN đúng đối tượng vay vốn theo qui định, trong đó có 4 doanh nghiệp đã có xác nhận của Sở Tài chính, Sở Lao động- thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố. Số vốn được VDB chấp thuận cho vay đến nay chưa nhiều (526 triệu đồng). Tổng Giám đốc Nguyễn Quang Dũng cho biết: "Qua khảo sát tại một số địa bàn cho thấy, nhiều DN có tâm lý e dè, ngại ngần khi tiếp cận với nguồn vốn vay này. Họ cho rằng, nếu đi vay để trả lương cho công nhân thì sẽ ảnh hưởng đến thương hiệu, đặc biệt là với các thương hiệu đã nổi tiếng. Việc triển khai thực hiện giữa các cơ quan, sở ngành tại địa phương còn chậm, chưa chủ động. Các doanh nghiệp hoạt động không thực hiện báo cáo định kỳ nên vào thời điểm đầu năm Sở LĐ-TBXH không có số liệu lao động mất việc làm tại các doanh nghiệp trên địa bàn”.
Các DN dệt may sử dụng lượng lớn lao động. Trong điều kiện kinh tế khó khăn, các DN này phải chịu gánh nặng lớn về lương và BHXH. Thế nhưng, hầu hết các DN trong lĩnh vực này vẫn chưa có cách nào để thanh toán tiền lương cho công nhân. Ông Tăng Văn Huấn – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam nêu vướng mắc của các DN: “Tâm lý chung của các DN là vay để trả lương, đóng bảo hiểm thì có vay với lãi suất 0% thì vẫn phải trả nợ nên chưa muốn vay. Nếu chỉ áp dụng các khoản vay cho năm 2009 thì chúng ta mới đi được hết quí I nên kết quả sản xuất chưa rõ, rất khó nắm được số lượng lao động dôi dư thế nào. Năm 2008 là năm rất khó khăn cho ngành dệt may, đa số DN đều gặp khó khăn trong năm này (đa số các DN phá sản, giảm lao động). Nhà nước nên mở rộng phạm vi, đối tượng cho vay”.
Ông Tăng Văn Huấn cũng đưa ra dẫn chứng về DN may Cát Tường ở Đà Nẵng. DN đã làm thủ tục xin vay 1,1 tỷ trong đó có nội dung: không có đơn hàng phải giảm công nhân, biên chế; và để đóng BHXH. Sở LĐ-TB và XH Đà Nẵng đã phải gác lại hồ sơ vì trong số tiền vay của DN có cả các khoản của năm 2008 nên phải báo cáo tiếp vì thế DN chưa được vay.
Về đề nghị của Tập đoàn Dệt may, ông Lê Quang Trung, Cục phó Cục việc làm, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho rằng: Nếu giải quyết cho cả năm 2008 thì còn nhiều vấn đề đặt ra khó giải quyết được, việc chi trả sẽ rất khó khăn. Đến thời điểm này, nhiều lao động mất việc trong năm 2008 đã trở về quê và tìm được việc làm mới. Nếu DN trả tiền lương cho họ thì phải ký nhận mất nhiều thời gian mà hiệu quả lại không cao (tiền tàu xe, đi lại còn tốn kém hơn nhiều so với số tiền được lĩnh). Nếu Tập đoàn Dệt may muốn vay để thanh toán các khoản cho người lao động trong năm 2008 thì cần đưa ra các giải pháp cụ thể, có tính thực thi.
Ông Nguyễn Quang Dũng cũng nêu lên một thực trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” của một số DN hiện nay: “Các DN rất muốn giữ lại những thợ giỏi vì sợ qua khủng hoảng sẽ rất khó tuyển lao động. Thế nhưng, giữ lại những lao động này DN lại không có tiền để trả lương”. Trong khi đó, theo khuyến cáo của Cục Việc làm (Bộ LĐ-TB và XH) thì nhu cầu việc làm năm 2009 là rất lớn, DN cần chuẩn bị lực lượng lao động cho thời gian tới khi kinh tế phục hồi và phát triển.
Theo VOV (Vũ Hạnh)