QĐND Online – Sáng 19-6, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương với tỷ lệ cao (đều hơn 80% số đại biểu Quốc hội tán thành)…
Thứ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 5.
Với 410 đại biểu tán thành (đạt 83,00% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi). Luật có 7 chương, 50 điều có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2016.
 |
Ðại biểu Quốc hội ấn nút biểu quyết thông qua Luật. Ảnh: vpqh.gov.vn
|
Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý khi trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội về dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) cho biết, có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc Chính phủ “ủy quyền” cho Thủ tướng Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Không đồng tình với ý kiến này, Ủy ban thường vụ Quốc hội giải trình: Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Dự thảo Luật đã cụ thể hóa thẩm quyền của Chính phủ và thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, quy định rõ hơn trách nhiệm của tập thể Chính phủ, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ. Nguyên tắc làm việc của tập thể Chính phủ là theo nguyên tắc tập trung dân chủ, theo đó, những vấn đề quan trọng thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phải do tập thể Chính phủ thảo luận, quyết định, khác với nguyên tắc làm việc của cá nhân người đứng đầu Chính phủ. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về nội dung này như trong dự thảo Luật.
Cùng với đó, có ý kiến đề nghị bên cạnh việc phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cần bổ sung nguyên tắc “đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu”; có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc “cơ quan cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan cấp trên” để làm rõ tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
Tiếp thu ý kiến này, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho bổ sung các nội dung nêu trên như thể hiện tại khoản 2 và khoản 3 Điều 5 như sau: “Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chức năng và phạm vi quản lý giữa các bộ, cơ quan ngang bộ; đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu. Tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, năng động, hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm nguyên tắc cơ quan cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan cấp trên”.
Cũng theo Luật được thông qua, số lượng thứ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 5; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao không quá 6. Trong trường hợp do sáp nhập bộ, cơ quan ngang bộ hoặc do yêu cầu điều động, luân chuyển cán bộ của cơ quan có thẩm quyền thì Thủ tướng Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Quy định rõ phân cấp, phân quyền
Luật Tổ chức chính quyền địa phương được thông qua với 421 đại biểu tán thành (đạt 85,22% tổng số đại biểu Quốc hội). Luật có 8 chương, 143 điều quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2016.
Theo luật được thông qua, cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp. Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp huyện; những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp huyện trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh; những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có quy định khác.
Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.
Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp.
XUÂN DŨNG