 |
|
Trí thức trẻ tình nguyện ở Đoàn KT – QP B79 hướng dẫn dân bản Sân Bay, xã Si Pa Phìn, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên trồng lúa nước |
Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường trí thức trẻ tình nguyện đến công tác tại các khu Kinh tế - Quốc phòng (KT – QP), Bộ Quốc phòng đã phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tuyển chọn 385 trí thức trẻ (TTT) tình nguyện về công tác ở 19 Đoàn KT – QP, giúp các địa phương vùng sâu, vùng xa phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị. Sau hơn một năm, các TTT tình nguyện đã làm được nhiều việc. Tuy nhiên, “
đầu ra” cho TTT sau khi kết thúc chương trình 2 năm “
cắm bản” vẫn còn là vấn đề cần phải quan tâm giải quyết.
Sức trẻ “bẻ” mọi gian khó
Chuyến khảo sát của chúng tôi về hoạt động của TTT tình nguyện theo Dự án 1136 - BQP được bắt đầu tại Đoàn KT – QP B79 (Quân khu 2), nơi có 47 TTT tình nguyện đang làm việc. Đại tá Phùng Thế Quảng, Cục trưởng Cục Kinh tế, kiêm Phó trưởng ban Thường trực Ban quản lý Dự án 1136 - BQP cho biết: “Các bạn trẻ lên đây công tác phải vượt qua rất nhiều khó khăn, nhưng tôi nghĩ đây chính là điều kiện tốt để TTT phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành”.
Đoàn B79 có 14 đội sản xuất, đội công tác cơ sở đang làm nhiệm vụ ở các xã biên giới của tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Tại những nơi này, TTT tình nguyện được tăng cường xuống các đội để tuyên truyền, hướng dẫn bà con chăn nuôi, trồng trọt hoặc xuống các xã làm cán bộ Đoàn, Hội phụ nữ, nhân viên y tế… Để hoàn thành nhiệm vụ, TTT cùng các đội công tác cơ sở phải vượt qua rất nhiều khó khăn. Đường từ trung tâm huyện xuống xã xa hơn trăm ki-lô-mét, từ xã đến bản cũng vài chục ki-lô-mét, hầu hết phải đi bộ (có nơi muốn đi từ xã xuống bản phải mất tới 2 ngày lội suối, trèo đèo). Những thứ thiết yếu cho cuộc sống như điện, nước sinh hoạt, các phương tiện truyền thông… đều thiếu thốn. Khó khăn vô cùng nhưng tất cả 47 TTT ở Đoàn B79 đều không hề quản ngại.
Bạn Lò Thị Hồng Nghiệm đang công tác ở đội xây dựng cơ sở số 1, trực tiếp “3 cùng” với nhân dân xã Nà Khoa, huyện Mường Nhé kể: “Em được phân công làm Phó chủ tịch Hội phụ nữ xã, còn bạn Thanh ở cùng đội với em làm Phó bí thư Đoàn xã. Từ chỗ chúng em ở đến các bản xa phải đi bộ mất cả ngày. Mỗi chuyến xuống bản gặp bà con để tuyên truyền, vận động, chúng em phải đi suốt tuần. Vừa rồi em thuyết phục mãi mới được 57 chị đi đặt vòng tránh thai, 32 chị dùng thuốc tránh thai. Nếu không đến tận nhà tuyên truyền, thuyết phục thì bà con ở đây cứ tiếp tục đẻ. Có gia đình đã 8 con nheo nhóc mà vẫn muốn đẻ tiếp”.
Vận động phụ nữ hạn chế sinh đẻ đã khó, nhưng vận động thanh niên người dân tộc thiểu số tham gia sinh hoạt Đoàn còn khó hơn nhiều. Vũ Thùy Linh, cựu sinh viên trường Trung học kỹ thuật tổng hợp Hà Nội đang làm Phó bí thư Đoàn xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé cho biết: “Xã em có gần 500 thanh niên nhưng em và cán bộ Đoàn xã đi vận động mãi mới được 83 thanh niên vào Đoàn. Chúng em vừa phải vận động thuyết phục, vừa tích cực tổ chức hoạt động văn hoá văn nghệ, thi đấu thể thao thì thanh niên mới chịu đến sinh hoạt. Bình thường, họ hay tụ tập thành từng nhóm, do thiếu hiểu biết nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng lắm!”. Anh Lò Văn Nam, Phó chủ tịch xã Quảng Lâm khoe: “Năm ngoái xã tôi chỉ có một Chi hội phụ nữ. TTT tình nguyện về đã giúp địa phương thành lập đủ 9 Chi hội ở 9 bản. TTT tình nguyện cùng với bộ đội còn làm vườn rau kiểu mẫu và hướng dẫn bà con nhân rộng khắp các gia đình. TTT không sợ khổ đâu. Họ hăng hái lắm!”.
Đồng chí Pờ Diệp Sàng, Phó bí thư Thường trực Huyện ủy Mường Nhé, tỉnh Điện Biên cho chúng tôi
 |
|
Hai chị em ruột Lò Thị Thỏa, Lò Thị Thuận mong được suốt đời “cắm bản” |
biết: “
Mường Nhé có 35 TTT đến làm việc. Mặc dù các bạn trẻ mới ra trường, kinh nghiệm công tác còn hạn chế, nhưng đối với địa bàn khó khăn như Mường Nhé thì các bạn ấy thực sự là vốn quý. TTT đã giúp địa phương xoá các thôn bản không có tổ chức Đoàn, Hội phụ nữ; vận động bà con định canh, định cư, bỏ hủ tục tảo hôn và giúp nhân dân biết cách chăn nuôi, trồng trọt, phòng, chống dịch bệnh… Ngoài ra, TTT còn hướng dẫn cán bộ xã soạn thảo văn bản, làm công tác Đoàn, Hội… Nói chung, những địa phương khó khăn như Mường Nhé chúng tôi rất cần TTT về công tác”.
Lo không được tiếp tục “cắm bản”!
Xây dựng các khu KT – QP là một chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước và Quân đội, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, củng cố và giữ vững an ninh – chính trị ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Để thực hiện chủ trương này, Quân đội đã thành lập các Đoàn KT – QP là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ “cắm bản”. Tuy nhiên, khi thực hiện nhiệm vụ, các Đoàn KT – QP gặp khó khăn là đa số cán bộ, chiến sĩ trước đây đều từ các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện chuyển về, tuy có trình độ, kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhưng hiểu biết về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt còn hạn chế, nên khi hướng dẫn bà con phát triển sản xuất khó đạt hiệu quả cao. “Có thực mới vực được đạo”, đối với bà con các dân tộc thiểu số, trình độ văn hoá thấp, cuộc sống còn nhiều khó khăn thì trước hết phải làm cho bà con có cuộc sống ấm no, sau đó mới có thể tuyên truyền, vận động họ làm những việc khác. Dự án 1136 “Tăng cường TTT tình nguyện đến công tác tại các Đoàn KT – QP” chính là nhằm bổ sung đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật.
Theo đánh giá của Ban quản lý Dự án 1136 - BQP, 385 TTT tình nguyện đã phát huy tốt vai trò trách nhiệm, góp phần quan trọng cùng với các Đoàn KT – QP thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, vấn đề mà lãnh đạo Ban quản lý Dự án và các bạn trẻ rất băn khoăn là, sau khi hết 2 năm tình nguyện, các TTT sẽ làm gì nếu họ không được tuyển vào làm việc chính thức ở các Đoàn KT – QP hoặc ở các địa phương mà họ đang “cắm bản”?
Tại hội nghị sơ kết một năm thực hiện chương trình đưa TTT tình nguyện đến công tác ở khu KT – QP Mường Chà, hai chị em ruột Lò Thị Thỏa, Lò Thị Thuận (xung phong đi tình nguyện ngay sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp dạy nghề tỉnh Điện Biên), tâm sự: “Mong ước lớn nhất của chúng em là sau 2 năm đi tình nguyện sẽ được nhận vào làm việc chính thức tại nơi mình đang công tác. Chúng em đã quen với công việc, với dân bản, bà con rất quý nên chúng em muốn ở lại đây luôn, anh ạ”! Mong muốn của hai chị em người dân tộc Thái này cũng là nguyện vọng của hầu hết TTT tình nguyện đang công tác ở khu KT – QP có rất nhiều khó khăn này.
Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Phùng Thế Quảng trăn trở: “Trong Dự án, Chính phủ và Bộ Quốc phòng đã có một số chế độ ưu đãi về vật chất và ưu tiên giải quyết việc làm… cho TTT tình nguyện. Theo đó, khi hết 2 năm tình nguyện, những TTT hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nguyện vọng ở lại công tác sẽ được các Đoàn KT – QP và địa phương xem xét, tuyển dụng. Nhưng theo quy định về biên chế các đơn vị quân đội thì chúng tôi không tuyển được nhiều. Hiện các đơn vị cũng đã có hướng tạo điều kiện cho các em lập nghiệp ngay tại khu KT – QP, song cũng không thể giải quyết hết được. Về phía địa phương, đáng tiếc là có những nơi chưa muốn tuyển TTT về làm việc vì sợ “mất chỗ” của người thân… Chúng tôi rất mong nhà nước có cơ chế tuyển những TTT này vào làm việc ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa vì những nơi này thiếu rất nhiều cán bộ có trình độ. Sau 2 năm tình nguyện, TTT đã quen với địa bàn, biết tiếng dân tộc và tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm, nếu không tiếp tục sử dụng họ thì rất lãng phí”!
Qua khảo sát ở các Đoàn KT – QP chúng tôi được biết, trong thời gian đi hoạt động tình nguyện, nhiều TTT đã tạo cho mình việc làm như lập trang trại, mở cơ sở sản xuất, kinh doanh ngay tại các vùng biên giới. Ở Đoàn KT – QP 4 thuộc Quân khu 4, một nhóm TTT tình nguyện đã mở cơ sở chế biến sợi miến từ củ dong giềng, không chỉ làm ăn khấm khá mà còn giúp cho bà con ở đây có việc làm và thu nhập ổn định. Tại Đoàn KT – QP B27 (Quân khu 3), TTT tình nguyện cùng với bộ đội đã hướng dẫn kỹ thuật làm mây, tre đan
|
385 TTT tham gia hoạt động tình nguyện tại các khu KT – QP đều có trình độ từ trung cấp trở lên. 31% TTT là người dân tộc thiểu số; 73% là người trong tỉnh.
Cán bộ xã ở các tỉnh miền núi chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ cao, điển hình như tỉnh Lâm Đồng có hơn 50% cán bộ xã, phường chưa qua đào tạo. Trong khi nhà nước đang phải chi nhiều ngân sách để thực hiện chế độ cử tuyển, tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số thì việc sử dụng đội ngũ TTT tình nguyện sẽ có ý nghĩa góp phần tăng cường cán bộ trẻ cho cơ sở các địa bàn vùng sâu, vùng xa. |
và tìm đầu ra cho các sản phẩm này, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động… Không ít TTT đã quyết định xây dựng gia đình, gắn bó cả đời với những vùng đất còn rất nhiều khó khăn... Những việc làm đó không chỉ thể hiện khả năng, trình độ làm kinh tế, mà còn thể hiện tinh thần vượt khó, quyết tâm “
cắm bản” của các TTT.
Cần đồng thuận từ cơ sở
Được biết, hiện ở các vùng sâu, vùng xa đang rất thiếu cán bộ có trình độ. Vì thế, giữ TTT ở lại “cắm bản” là việc làm cần thiết để thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giữ vững an ninh - quốc phòng ở các vùng biên giới. Tuy nhiên, để thực hiện được chủ trương này, trước hết cấp uỷ Đảng, chính quyền các địa phương phải có nhận thức đúng, nhận rõ đây là những “hạt giống” của địa phương để góp phần vun trồng, tạo điều kiện thuận lợi cho các TTT có thể yên tâm công tác lâu dài, chống đố kỵ, “gia đình, địa phương chủ nghĩa” trong công tác sử dụng cán bộ. Với những TTT không được tuyển làm cán bộ, công chức thì các địa phương cần tạo điều kiện cấp đất, cho vay vốn ưu đãi để họ làm trang trại, mở cơ sở sản xuất, kinh doanh, xây dựng gia đình và lập nghiệp lâu dài ngay tại địa phương.
Đối với các Đoàn KT – QP, cùng với việc hướng nghiệp, hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật cho TTT, cần quan tâm rèn luyện phẩm chất chính trị, bồi dưỡng cho họ trở thành những cán bộ, đảng viên mẫu mực, làm nòng cốt trong công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, xây dựng đời sống mới.
Điều quan trọng nhất vẫn là bản thân mỗi TTT phải không ngừng phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tránh tình trạng “đòi hỏi nhiều hơn cống hiến”, hay những suy nghĩ không xuất phát từ hoàn cảnh, điều kiện chung của địa phương; đồng thời năng động, sáng tạo, chủ động tạo việc làm xây dựng cuộc sống cho bản thân và tích cực góp phần phát triển kinh tế - xã hội nơi công tác.
Bài và ảnh: CÁT HUY QUANG