Giao dịch tiền tại ngân hàng. Ảnh theo internet
Đó là thông tin do Navigos Group, công ty cung cấp các giải pháp nhân sự và tuyển dụng hàng đầu Việt Nam vừa mới công bố trong Báo cáo Khảo Sát Lương Việt Nam 2008.

Theo đó, trong Báo cáo Khảo Sát Lương 2008 do Navigos Group tiến hành, các công ty tại TP Hồ Chí Minh chiếm 57% trong tổng số các công ty tham gia khảo sát, tại Hà Nội và các vùng lân cận chiếm 17%, tại các tỉnh phía Nam (trừ TP Hồ Chí Minh) chiếm 17% và tại miền Trung chiếm 9%. Kết quả cho thấy, năm 2008 cho thấy Hà Nội có mức tăng lương cao nhất với 23,7% so với các tỉnh/thành khác, cao hơn gần 3% so với mức tăng lương 21% ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, dù Hà Nội có mức tăng lương cao hơn TP Hồ Chí Minh trong năm 2008, nhưng nhìn chung, mặt bằng lương tại TP Hồ Chí Minh vẫn cao hơn doTP nàyluôn là trung tâm kinh tế của cả nước.

Kết quả Báo cáo Khảo Sát Lương Việt Nam 2008 có được là do Navigos Group phân tích số liệu lương thưởng từ tháng 4-2007 đến tháng 3/2008 của 64.905 nhân viên tại 206 công ty.

Bà Lia Abella, Trưởng phòng Dự án của Navigos Group cho biết đây là báo cáo khảo sát lương lớn nhất, toàn diện nhất và sâu sắc nhất tại Việt Nam trong năm 2008.

Trong tổng số công ty tham gia khảo sát, tỉ lệ công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 71% và công ty Việt Nam chiếm 29%. Kết quả cũng cho thấy mức tăng lương tại các công ty Việt Nam đạt 20,2%, trong khi các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài đạt 20%. Mức tăng lương tại các doanh nghiệp Việt Nam có phần cao hơn có một phần do các doanh nghiệp này muốn rút ngắn khoảng cách lương thưởng trên thị trường nhằm tăng tính cạnh tranh trong việc thu hút nhân tài.

Bên cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra lĩnh vực Tài chính có mức tăng lương cao nhất với 31.6%. Đó là năm thứ hai lĩnh vực tài chính tiếp tục dẫn đầu mức tăng lương so với các lĩnh vực khác. Lý do cho mức tăng lương này là trước khi nền kinh tế phát triển chậm lại như hiện nay, lĩnh vực ngân hàng đã phát triển khá mạnh.

So sánh tương quan về tiền lương giữa các cấp độ trong ba lĩnh vực chính bao gồm Tài chính, Hàng tiêu dùng và Sản xuất cho thấy bình quân mức lương của lĩnh vực Tài chính cao hơn so với lĩnh vực Hàng tiêu dùng và Sản xuất. Trong lĩnh vực Tài chính, bình quân mức lương gộp của cấp độ chuyên viên là 7.945 đôla/năm và của cấp độ quản lý là 19.591 đôla/năm. Bình quân mức lương gộp trong lĩnh vực Hàng tiêu dùng hơi thấp hơn, của cấp độ chuyên viên là 7.504 đôla/năm và của cấp độ quản lý là 18.752 đôla/năm. Còn trong lĩnh vực Sản xuất, bình quân mức lương gộp của cấp độ chuyên viên là 6.840 đôla/năm và của cấp độ quản lý là 14.588 đôla/năm.

Mặt khác, trình độ học vấn dường như vẫn là một yếu tố quan trọng quyết định mức lương, nhưng chỉ ở một cấp độ nhất định. Đối với những vị trí dành cho các ứng viên mới tốt nghiệp và chưa có nhiều kinh nghiệm, mức lương gộp bình quân dành cho người có bằng thạc sỹ vào khoảng 30.820 đôla/năm, còn đối với người có bằng cử nhân, mức lương này vào khoảng 10.263 đôla/năm. Đối với những vị trí ở cấp cao hơn, thước đo chính là những kỹ năng cụ thể và kinh nghiệm của ứng viên chứ không phải trình độ học vấn hay bằng cấp.

Theo Báo cáo Khảo Sát Lương Việt Nam 2008 cho thấy giai đoạn từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2008, mức tăng lương đạt 19,5% và là mức tăng lương cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Lý do nhiều công ty tiến hành tăng lương chủ yếu là để ứng phó với tình hình lạm phát. Điều đó có thể dễ nhận thấy ở 61 trong tổng số 206 công ty tham gia khảo sát cho biết trong năm vừa qua, họ đã nhiều lần tiến hành điều chỉnh lương ngoài kế hoạch. Theo đó, 91% trong số các công ty có điều chỉnh lương cho biết họ đã điều chỉnh lương hai lần trong năm và 8,5% tiến hành điều chỉnh lương ba lần trong năm. Lý do chủ yếu khi điều chỉnh lương, theo các công ty này, là để ứng phó với tình hình lạm phát và để giữ nhân viên.

Theo HNMO