Du khách nước ngoài đến tìm hiểu các di tích ở Ngã ba Đồng Lộc

Chiều tháng tư vi vút tiếng thông reo, trong mùi trầm ngan ngát, giọng của Trần Thanh Nga, hướng dẫn viên Ban quản lý Di tích như một khúc ba-lát bất tận đưa chúng tôi về với những kỷ niệm, chiến công của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc.

… Tiểu đội 4 có 17 chị em, như một gia đình đông con mà người chị cả Võ Thị Tần mẫu mực lo cho đàn em đang tuổi ăn tuổi lớn, từng mẩu bồ kếp gội đầu, chiếc cặp ba lá, mảnh vải còn lành để vá những bộ quần áo rách te tua trong những ngày đi lấp hố bom, thông đường…

Tôi đã được đọc hai lá thư của Võ Thị Tần viết trong cái đêm tháng 7-1968 năm ấy. Một lá viết gửi tìm mộ một liệt sĩ lái xe; một gửi cho mẹ: "Ở đây vui lắm mẹ ạ! Ban đêm pháo sáng của chúng thắp đèn để chúng con làm đường, ban ngày chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện". Tần khẳng định với mẹ một điều "Bom đạn Mỹ làm rung chuyển núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển trái tim của chúng con. Thằng Mỹ còn hung hăng thì con còn nhiều chuyện kể cho mẹ nghe vì sự thất bại của chúng"…

Lặng lẽ đi giữa hàng mộ chí lãng đãng khói hương, trước bia mộ là những chiếc gương, chiếc lược mà du khách thành tâm mang tới tặng 10 thiếu nữ "mãi mãi tuổi hai mươi", tôi mơ hồ nghe qua băng ghi âm tiếng hát cao vút của cô gái Trần Thị Hường, "con chim sơn ca của tiểu đội" như những ngày còn sống chị em trong tiểu đội đặt cho.

Tiếng hát của chị có nương dâu, bãi mía ngút màu xanh ven bờ sông La, có điệu hò ví dặm, có tiếng cười của chị em trong tiểu đội khi hố bom vừa lấp xong, các chị chống cuốc vẫy chào những đoàn xe xanh lá ngụy trang chở hàng vào chiến trường.

Tôi run run nâng chiếc gương tròn màu đỏ và chiếc lược nhựa ở mộ chị Dương Thị Xuân. Chuyện kể rằng cô Xuân có mái tóc dài đen huyền như vừa được gội ở dòng nước xanh mát trên con sông La quê chị ngày nào.

Những di vật còn lại của 10 cô gái TNXP Ngã ba Đồng Lộc

Giọng Nga trầm xuống: Lúc lên đường, ngoài bộ quần áo mặc trên người, trong chiếc túi dết bằng bạt của chị Nguyễn Thị Nhỏ có bộ quần áo lành lặn nhất và nắm cơm của người chị gái nắm cho. Bộ quần áo ấy chị cất kỹ dưới đáy ba lô, thỉnh thoảng mới mang ra mặc để "có hơi của người chị gái tần tảo lần hồi sớm hôm để lấy tiền nuôi con thay chồng đi đánh giặc, nuôi những đứa em còn thơ dại". Trong những ngày sống với chị em, Nhỏ là người chăm học nhất.

Tôi lặng người khi tình cờ được gặp chị Nguyễn Thị Miên (chị gái của Nhỏ) đang đặt những bó huệ còn tươi trên mộ em gái và những đồng đội của cô. Chị khóc không thành tiếng: "Lúc tiễn Nhỏ lên đường, tôi có dặn em gắng làm việc cho bằng chị bằng em, phải cẩn thận nơi mũi tên hòn đạn".

Hai hàng nước mắt tràn trên gò má Nga lúc nào! Tôi khóc! Mọi người khóc nghe Nga đưa chúng tôi về thời thơ ấu của Hà: Trong tiểu đội, Võ Thị Hà là người nhỏ nhất, nhưng cũng là người thích đọc sách và được các chị trong tiểu đội chiều chuộng nhất. Có lần về thăm nhà mới được một chốc, Hà đã chạy ra cửa hiệu sách ở đầu thị trấn ôm về một chồng sách, rồi nũng nịu với mẹ: "Đừng mắng con mẹ nhé, con phải tranh thủ không cửa hàng đóng cửa. Ngoài giờ ra trận địa phá bom, tối về nghỉ không có sách đọc con buồn lắm mẹ ạ".

Cười hiền, ôm đứa con vào lòng mẹ mắng yêu: "Cha chị! Cứ thanh minh, thanh nga". Lần ấy mẹ cho Hà mấy đôi gà chị em nuôi để cải thiện. Vài tháng sau được thưởng phép, Hà mang về tặng mẹ con gà mái. Một hôm, bà Trần Thị Khuyên đang cuốc vườn, bỗng ruột bà như lửa đốt. Hai ngày sau bà nhận được tin Hà hy sinh…

Thư gửi mẹ ngày 19-7-1968 của tiểu đội trưởng Võ Thị Tần, trước ngày chị hy sinh

Cái cuốc "đi cùng" Hồ Thị Cúc bây giờ vẫn còn. Nó giống như cuốc của cha chị, mẹ chị đã từng cầm trong những năm tháng chinh phục mảnh đất Nương Bao bên con sông Ngàn Phố xanh trong. Cái cuốc của cha mẹ đã nuôi chị và các em lớn lên vượt qua cái đói năm Ất Dậu 1945. Những năm ấy cha Cúc không còn. Mồ côi cha, mẹ đi lấy chồng, cô bé Cúc ở với mấy người cô trong họ. Vất vả, người Cúc như cọc lại, tóc vàng hoe. Lớn lên cô xung phong lên đường. Ba năm phá bom, san đường, cô đã khóc khi được đứng lên đọc lá đơn của chính mình viết xin vào Đảng.

Nga cúi xuống ôm lấy một ngôi mộ, nghẹn ngào: Tiểu đội phó Cúc vẫn nằm đó ở giáp mộ chị Tần như hai người chị trong tiểu đội. Hôm bom đánh, cô bị văng xa đến hơn 20 mét. Ba ngày sau đồng đội mới tìm thấy chị hy sinh trong tư thế ngồi, chiếc nón còn đội trên đầu… Chiếc cuốc dựa vào vai… 10 đầu ngón tay rách tướp…

Mười chị, mười bông hoa trắng tinh khiết ấy đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 16 giờ ngày 24 tháng 7 năm 1968. 10 cô từ nơi ở chạy như bay ra mặt đường cách Ngã ba Đồng Lộc 300 mét về phía nam để san lấp hố bom, sửa chữa đường kết hợp với củng cố hầm trú ẩn. 3 lần bị bom vùi, các chị đội đất đứng dậy tiếp tục cuốc đào trong tiếng bom xé nát không gian. 15 lần cả thảy các chị phải nép vào mép ta-luy tránh những đợt bom của địch điên cuồng thả xuống. Đúng lúc đợt bom thứ 19 vừa nổ, các chị lại ào lên mặt đường, cuốc, lấp, san, đào và rồi một tiếng nổ của con "diều hâu" mang bom, lạc đàn thả xuống. Một tiếng nổ, một cột khói, rồi tất cả im lặng. Các đơn vị thanh niên xung phong, bộ đội, nhân dân xung quanh ào tới bới đất đá bằng tay, bằng cuốc, bằng tất cả thứ gì có được và đồng thanh gọi tên các chị nhưng không có tiếng trả lời. Đất im lặng. Các chị im lặng. Bên hố bom toang hoác là dăm chiếc cuốc, xẻng gãy cán, mẻ lưỡi. Họ đã hy sinh!

Mười ngôi mộ, như mười phím đàn dưới cỏ lặng lẽ, bình thản dựa vào sườn núi Trọ Voi. Ảnh của các chị với những đôi mắt cười tự tin thanh thản nhìn tượng đài chiến thắng nằm dưới thung lũng trong công viên tuổi trẻ. Nơi đây ngày xưa chi chít hố bom.

Phía trước tượng đài Chiến Thắng là ngã ba-nơi giao nhau của ba con đường huyết mạch và dãy núi Trọ Voi. Con đường ngày xưa các chị chăm chút như những người mẹ vá áo cho con, người vợ vá áo cho chồng, bây giờ đã trải bê tông nhựa dày, rộng thênh thang. Các hố bom đã lấp đầy bởi màu xanh của lúa, ngô, đậu, lạc. Cái hố bom nơi các chị ngã xuống bây giờ vẫn chỉ là một mảnh đất trũng vũm lòng mo, mọc đầy một thứ cây dại lá xanh thấp với những chùm hoa mỏng mảnh, nhỏ li ti trắng muốt. Tôi đi đến thành kính thắp nén nhang cắm bên bờ hố bom. Ở trên đường các cháu học sinh trường cấp ba đã tan học ríu tít chuyện trò.

Từ trong sâu thẳm của trái tim mình, tôi nguyện cầu cho linh hồn các chị mát mẻ. 10 ngôi mộ-10 phím đàn dưới cỏ như câu thơ của tác giả Nguyễn Văn Hùng làm tôi liên tưởng tới hàng trăm nghìn liệt sĩ đã ngã xuống vì mảnh đất thiêng liêng hình chữ S, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì sự hưng thịnh của con Lạc cháu Hồng. Hàng triệu phím đàn ấy mãi mãi ngân lên bản hùng ca bất tận và tồn tại vĩnh viễn trong trái tim của dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh: VŨ ĐẠT