 |
|
Đồng đội của liệt sĩ Mai Tiến Thụ và Nguyễn Quang Thi dâng hương tại Nghĩa trang Đồi A1 - Điện Biên Phủ. |
Ngày 10-3-2007 tại Hà Nội, gần 500 cán bộ, chiến sĩ đoàn A1 trung đoàn 174 thuộc các tỉnh phía bắc, về dự kỷ niệm truyền thống 40 năm ngày lên đường vào Nam chiến đấu.
Cả hội trường đang xôn xao với những lời thăm hỏi ân tình sau 40 năm xa cách, thì bỗng nhiên im phăng phắc, khi đồng chí Văn trong Ban tổ chức giới thiệu thương binh Phạm Văn Vẻ, nguyên chiến sĩ tiểu đoàn 4, lên báo cáo 3 lần trở lại Tây Nguyên tìm được 30 ngôi mộ đồng đội.
Đang báo cáo, một người hỏi:
- Đồng chí lấy tiền ở đâu mà đi?
Bác Phạm Văn Vẻ trả lời:
- Đó là tất cả số tiền phụ cấp thương tật, tôi đã dành dụm được trong 6 năm…
Giọng nói của bác Phạm Văn Vẻ như nghẹn lại, rồi tiếp:
- Sau ngày 10-11-1967 tôi bị thương ở điểm cao 882 tỉnh Kon Tum, tôi có cảm giác những linh hồn các đồng đội luôn phảng phất trong tôi, nhắc nhở tôi không được quên các anh, hãy tìm đến các anh và hãy đưa các anh về với quê hương…
Tôi luôn luôn hình dung ra nét mặt, nụ cười, vóc dáng nhanh nhẹn, tháo vát của các anh. Đó là Đại đội trưởng Mai Tiến Thụ, sau là Tiểu đoàn trưởng của tôi. Tôi còn nhớ khi đơn vị đóng quân ở Mộc Châu, trời mùa đông rét như cắt, thế mà cứ đúng 5 giờ 30 phút, tôi đã thấy từng hồi còi vang lên từ đầu đến cuối doanh trại của Trưởng ban tác chiến Mai Tiến Thụ…
Hôm đánh trận Hứa Mường, Hàm Ra ở nước bạn Lào, trung đội DKZ của chúng tôi cùng với đại đội 10 do anh chỉ huy phòng ngự trên một quả đồi. Kết thúc chiến dịch, tháng 7, đơn vị trở về Mộc Châu chuẩn bị đi B. Tại đây anh Thụ đã gặp chị Thâu là công nhân hạt hai, đường số 6. Hai anh chị chỉ quen nhau 3, 4 ngày, là đã dẫn nhau về nhà tổ chức đám cưới ngay trong những ngày nghỉ phép đi B. Hết phép anh chị lên đơn vị. Chúng tôi ở trong doanh trại, còn anh chị chẳng biết ăn nghỉ ở đâu. Chúng tôi bảo nhau ra rừng đẵn cây, cắt cỏ làm cho anh chị một cái lán nhỏ. Ngày thì anh chỉ huy đơn vị tập luyện, tối về anh chị sống hạnh phúc trong cái lán nhỏ còn thơm mùi cỏ tươi. Sống với nhau chưa đầy một tuần thì đơn vị có lệnh chuyển về huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa để luyện quân. Anh không thể đưa chị đi theo. Chúng tôi ai cũng bùi ngùi thương cảm cho cuộc chia ly này.
Khi vào tới chiến trường B, anh Thụ được giao nhiệm vụ làm Tiểu đoàn trưởng. Ngày 12-11-1967 anh chỉ huy đại đội 11 đánh tiếp cận, quân địch thua to phải tháo chạy. Anh Thụ hô xung phong, thì bất ngờ máy bay Mỹ đến ném bom lên cả đội hình quân ta và quân địch. Anh Thụ anh dũng hy sinh.
Tiểu đoàn trưởng Mai Tiến Thụ hy sinh, Tiểu đoàn phó Nguyễn Quang Thi trực tiếp chỉ huy đại đội 10, xuất kích sang đồi Yên Ngựa đánh vào điểm cao 845. Lúc này trên trời 4 chiếc máy bay phản lực gầm rít như xé cả không trung ra từng mảnh. Chúng thay nhau bắn phá đồi Yên Ngựa và điểm cao 822. Anh Thi đã dũng cảm chỉ huy tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, buộc chúng phải tháo chạy. Nhưng… một mảnh bom quái ác của kẻ thù phạt qua người anh… và anh đã mãi mãi ra đi!
Một cái tin như sét đánh khiến chúng tôi vô cùng đau đớn, tiểu đoàn đã mất đi hai người chỉ huy dũng cảm, mưu lược. Lòng căm thù giặc bốc lên như ngọn lửa trong lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi. Lợi dụng lúc trời còn nhá nhem tối, trợ lý tham mưu trưởng, anh Phạm Xuân Hải cho đại đội 11 đưa thi thể các liệt sĩ, trong đó có anh Thụ và Thi về phòng phẫu thuật của tiểu đoàn để lo mai táng chu tất, rồi lại tiếp tục mở những trận đánh vào sào huyệt của địch để trả thù cho các anh.
Nhìn lại gương mặt những đồng đội đã hy sinh, tôi nhận ra cậu Đạo quê ở Hưng Yên, cậu Dưỡng quê ở Thái Bình, anh Cao Như Cháp quê Phú Thọ, cùng với nhiều gương mặt còn rất trẻ. Tôi vô cùng xúc động. Nước mắt tôi trào ra. Rồi bất chợt tôi nhớ mấy câu thơ trong bài thơ "Viếng Bạn" của Hoàng Lộc, tôi đọc khẽ: “Hôm qua còn theo anh/Hôm nay đã chặt cành/Đắp cho người dưới mộ…".
Về với cuộc sống đời thường, linh hồn các anh cứ quẩn quanh bên tôi, cả trong giấc ngủ chập chờn, cả lúc tôi đang lo toan cho cuộc sống thường nhật. Tôi không thể ngồi yên để mà hưởng thụ những đồng tiền trợ cấp thương tật. Tôi như có tội với đồng đội… Vậy là tôi quyết định khoác ba lô vào chiến trường Tây Nguyên để tìm các anh và hy vọng, chính đồng đội đã chôn cất sẽ tìm ra được các anh. Tôi đem điều này nói với vợ tôi. Bà hiểu tấm lòng của tôi và động viên tôi đi…
Vậy là 3 chuyến vào Tây Nguyên tôi đã tìm được 30 ngôi mộ, báo tin đến gia đình các anh. Trong đó có Tiểu đoàn trưởng Mai Tiến Thụ, Tiểu đoàn phó Nguyễn Quang Thi, cùng với 5 liệt sĩ khác đã được gia đình đưa về yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ quê nhà.
Câu chuyện của bác Phạm Văn Vẻ sao mà sâu đậm nghĩa tình. Chúng tôi chạy đến bắt tay, ôm chặt lấy người đồng đội…
Nguyễn Ngọc Thường