QĐND - Trong những năm chiến tranh, thông tin liên lạc (TTLL) giữ vai trò vô cùng quan trọng, là huyết mạch kết nối, chuyển nhận mệnh lệnh chiến đấu kịp thời từ Trung ương tới các đơn vị. Chính vì vậy, TTLL luôn là mục tiêu tìm diệt hàng đầu của các phương tiện chiến tranh. Thế nhưng, trên chiến trường miền Nam, mạch máu thông tin vẫn luôn thông suốt; cho dù có phải chịu bao vất vả, hiểm nguy những cán bộ, nhân viên thông tin thuộc Trung ương Cục miền Nam vẫn kiên cường bám trụ, góp phần lập nên biết bao chiến công.
 |
| Ông Sáu Đại kể lại những chiến công của lực lượng thông tin Trung ương Cục miền Nam. |
Không để thông tin đứt mạch
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 10-1954, Xứ ủy Nam Bộ được thành lập trở lại với hai bộ phận thường trực đóng ở Cà Mau và nội thành Sài Gòn. Nhu cầu giữ TTLL với Trung ương và các đơn vị đặt ra cấp thiết. Để bảo đảm tuyệt đối an toàn, cả hai đài ở hai khu vực thường hoạt động vào ban đêm. Thời kỳ này, địch tung mật thám rình rập, bắt bớ ráo riết buộc Xứ ủy và các bộ phận giúp việc phải tạm lánh sang nước bạn và trụ lại ở đây hoạt động cho đến cuối năm 1959 mới chuyển về nước, đóng ở Dương Minh Châu (Tây Ninh). Điện đài phục vụ Xứ ủy do đồng chí Nguyễn Thành Danh (tức Sáu Đại) phụ trách cùng báo vụ viên Vũ Đức Ban (Mười Phong) và cơ công Tô Văn Sinh (Chín Sinh). Nhớ lại những ngày đó, ông Sáu Đại, 85 tuổi, nguyên Trưởng ban TTLL Trung ương Cục miền Nam, nguyên Giám đốc Bưu điện TP Hồ Chí Minh, kể:
- Đài do tôi phụ trách dùng máy 3W liên lạc với Trung ương. Bọn địch lùng sục gắt gao nên chúng tôi phải chuyển máy, thay đổi địa điểm thường xuyên, lúc thì ở nhà cơ sở cách mạng, trong hầm bí mật, khi thì ở kênh rạch, rừng tràm… Dù vậy, chúng tôi vẫn bảo đảm thông tin liên tục không để mất liên lạc. Công việc rất nhiều, 8 giờ tối chúng tôi bắt đầu lên máy, làm việc đến 5, 6 giờ sáng hôm sau vẫn chưa hết việc nhưng buộc phải nghỉ để bảo đảm an toàn.
Địch tăng cường khủng bố. Với quyết tâm không để đứt mạch thông tin giữa Trung ương với Xứ ủy Nam Bộ, tổ đài liên tục di chuyển qua nhiều nơi. Mùa nước nổi, đài phân tán trên các xuồng, bên dưới để máy, bên trên bố trí các dụng cụ đánh bắt cá để ngụy trang. Cứ thế, tổ đài âm thầm hoạt động chuyển nhận thành công nhiều thông tin quan trọng. Ông Đỗ Bông (Ba Bông), nguyên Phó ban TTLL Trung ương Cục nhớ lại:
 |
| Cán bộ, nhân viên Ban TTLL chuyển nhận điện. Ảnh chụp lại |
- Làm việc trên mặt nước hết sức khó khăn. Chúng tôi hẹn nhau tập trung ở địa điểm thống nhất, bủa lưới rồi ken xuồng lại thành mặt bằng để làm việc; ăng-ten vô tuyến căng trên các cọc sào. Cả tổ miệt mài nhận, dịch điện khẩn trương, khi xong bỏ máy vào ruột bánh xe hơi buộc thật chặt; thấy có dấu hiệu bất ổn thì bỏ xuống nước. Nhờ sự giúp đỡ của bà con nên chúng tôi bám trụ làm việc được khá lâu trên bờ kênh. Mãi đến khi…
Ông Ba Bông ngừng lời, giây lát ông kể tiếp:
- Thời gian sau, địch phát hiện và bao vây khu vực đài, chúng tập trung dân để nhận mặt đồng chí Sáu Đại qua ảnh. Anh Sáu bị kẹt trong vòng vây. May sao, có một cháu bé khoảng 10 tuổi, là con của cơ sở cách mạng, thông thạo kênh rạch, mưu trí, dũng cảm dùng xuồng chở anh Sáu luồn lách thoát khỏi vòng vây của địch. Ngay sau đó, tổ đài chuyển vào rừng mây, tiếp tục liên lạc đều đặn với Trung ương không để bị gián đoạn.
Sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ
Hiểu rõ tầm quan trọng của TTLL, địch dùng mọi thủ đoạn để đánh phá, tiêu diệt các đài của ta. Chúng đặt trạm kiểm thính trên núi Bà Đen, Thái Lan, Hạm đội 7 và theo dõi 24/24 giờ nhằm phát hiện đài thông tin phát sóng để thu thập tin tức, định hướng, tìm diệt cụm đài và cơ quan đầu não Trung ương Cục. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, hầu hết vùng căn cứ cách mạng ở miền Đông Nam Bộ và dọc biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia đều bị không quân và pháo binh địch thay phiên bắn phá. Chính trong khó khăn, nguy hiểm ấy, cán bộ, nhân viên thông tin Trung ương Cục miền Nam đã sáng tạo, kiên cường, lặng thầm tỏa sóng vươn xa phục vụ các chiến trường. Ông Sáu Đại kể tiếp:
- Trước tình thế nguy hiểm và đòi hỏi của nhiệm vụ, Ban thông tin giao cho đồng chí Lê Minh Châu và Dương Văn Nam xây dựng một “cụm đài thật, tín hiệu giả” lấy phiên hiệu B6. Nhiệm vụ của cụm đài này là: Phải thu, phát như các cụm đài B19 và B20 để thu hút sự theo dõi của các trạm kiểm thính địch. Đồng thời, cụm đài B19 và B20 nghiên cứu soạn thảo các quy ước làm việc, đưa ra nhiều phương án sử dụng mật mã; sóng thu, phát khác nhau. Ngay trong một phiên liên lạc cũng thường xuyên đổi sang tên và sóng khác để tránh bị địch theo dõi. Nhờ đó, ta đã bảo toàn được lực lượng và bảo đảm bí mật tuyệt đối thông tin chỉ đạo của Trung ương Cục.
 |
| Cán bộ, nhân viên Ban TTLL chuyển nhận điện. Ảnh chụp lại |
Phương thức hoạt động của cụm đài B6 giống các đài vô tuyến điện thời kháng chiến chống Pháp. Giờ giấc và phiên liên lạc cố định, mục đích là nửa kín, nửa hở làm cho địch dễ phát hiện và đánh giá lực lượng vô tuyến điện của ta còn non yếu, càng sơ hở càng tốt để địch ráo riết theo dõi nhằm thu hút hỏa lực của chúng. Quy ước làm việc của cụm B6 khác hẳn các cụm đài B19, B20, chủ yếu dùng mật mã quốc tế để liên lạc nội bộ, hoàn toàn không được liên quan đến các cụm B19 và B20. Hằng đêm, cụm đài B6 lên máy thu, phát điện trên sóng để câu nhử địch, một báo vụ viên chuyên thảo các bức điện mang nội dung giả, hình thức như bức điện thật nhưng điểm đặc biệt là nội dung các bức điện địch không thể dịch ra nổi; bởi thế đã làm đau đầu các chuyên gia giải mã của chúng.
Với cách làm sáng tạo, độc đáo này, cụm đài B6 đã tồn tại 7 năm cho đến ngày giải phóng. Trong suốt thời gian dài tự nguyện làm “mồi nhử” trên làn sóng điện cho địch đánh phá, cụm đài B6 phải hứng chịu không biết bao nhiêu bom, đạn, hiểm nguy nhưng vẫn vượt lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Không chỉ với vô tuyến điện mà với máy hữu tuyến cũng có những cải tiến bất ngờ. Ông Huỳnh Văn Mai, nguyên Ủy viên Ban TTLL tâm đắc:
- Đầu năm 1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết, Trung ương Cục chỉ đạo Ban TTLL hoàn chỉnh mạng thông tin hữu tuyến phục vụ kịp thời cho lãnh đạo Trung ương Cục và các cơ quan, ban, ngành xung quanh trong phạm vi 20km. Do cự ly xa, máy cũ, chất lượng thông thoại kém, bộ phận kỹ thuật đã nghiên cứu lắp thêm thiết bị tăng âm, khuếch đại để bổ trợ, đáp ứng tốt yêu cầu của cấp trên. Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu thành công phương thức liên lạc mới là cải tiến máy thu, phát đơn biên cơ động phục vụ đồng chí Phạm Hùng trực tiếp liên lạc với Quân ủy Miền.
Nhờ sự thông minh, sáng tạo và tinh thần dũng cảm, ngoan cường, cán bộ, chiến sĩ Ban TTLL đã vững vàng tỏa sóng liên lạc an toàn, thông suốt trên toàn miền Nam.
Hiểm nguy không chùn bước
Tháng 4-1970, địch mở trận càn lớn dọc biên giới Tây Ninh hòng tiêu diệt Trung ương Cục. Hai cụm đài B19 và B20 di chuyển phía sau để phục vụ và giữ khoảng cách an toàn. Đây là khoảng thời gian ác liệt nhất, các cụm đài hành quân di chuyển liên tục, phải luôn ngụy trang hành lang di chuyển, tránh biệt kích, thám báo rình rập theo dõi; ngụy trang chống chiến tranh điện tử từ trên không, dưới mặt đất để tồn tại và giữ vững mạch máu thông tin. Ông Bùi Văn Nê, nguyên Ủy viên Ban TTLL xúc động:
- Bom, đạn của địch trút xuống ác liệt, B-52 cày xới, đánh sập nhiều căn hầm của các tổ đài. Chỉ trong vòng 1 tháng mà lực lượng của ban đã có tới 10 đồng chí hy sinh, 5 đồng chí bị thương. Sự khốc liệt của bom, đạn, khó khăn, gian khổ của chiến trường tưởng chừng sức người không thể chịu đựng nổi. Vậy mà cán bộ, chiến sĩ thông tin Trung ương Cục không hề chùn bước. Địch cứ đánh, ta cứ đi, cứ lên sóng liên lạc, mặc cho trinh sát điện tử, máy bay quần thảo suốt ngày đêm, cánh sóng điện của đài thông tin chưa một lần ngắt quãng, bảo đảm cho Trung ương Cục chỉ đạo cách mạng miền Nam…
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng thông tin của Trung ương Cục chưa đầy 160 người nhưng phải đương đầu với hệ thống thông tin, tác chiến điện tử vô cùng lớn và hiện đại của đế quốc Mỹ. Chỉ tính riêng quân thám thính vô tuyến ở ba đỉnh tam giác: Núi Bà Đen, Thái Lan và Hạm đội 7 của chúng đã có hàng ngàn binh lính với gần 3000 máy thu chuyên để theo dõi tất cả các tần số sóng ngắn của ta. Thế nhưng, chiến thắng đã thuộc về những con người quả cảm, mưu trí, được vũ trang bằng sức mạnh của lòng yêu nước và khát vọng tự do. Hòa trong chiến công chung của quân và dân cả nước trong ngày toàn thắng, có chiến công thầm lặng, bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ thông tin Trung ương Cục miền Nam.
Với những đóng góp to lớn ấy, Ban TTLL Trung ương Cục miền Nam vừa vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH