Bệnh nhân đến khám vô sinh tại Trung tâm Công nghệ phôi (Học viện Quân y). Ảnh: Sơn Thành

Cách đây hơn 6 năm, chính xác là vào ngày 2-8-2002, sự kiện hai cháu bé đầu tiên ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm do Trung tâm Công nghệ phôi (thuộc Học viện Quân y) tiến hành đã khẳng định bước phát triển mới của ngành y học Quân đội và cả nước. Từ đó đến nay, tại đây có hơn 900 cháu bé chào đời nhờ các biện pháp hỗ trợ sinh sản. Nhờ vậy, nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn đã có được niềm hạnh phúc trọn vẹn...

Vạn sự khởi đầu nan!

Cho đến bây giờ, ngay cả các y, bác sĩ làm việc ở Trung tâm Công nghệ phôi cũng không thể ngờ rằng, ca sinh nở đầu tiên bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm lại “đẹp” đến thế: Một trai - một gái, trai trước - gái sau…

Tâm sự với chúng tôi, chị Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1971, nhà ở phố Vĩnh Tuy (Hà Nội) tỏ rõ niềm vui. Chị và anh Nguyễn Đức Văn (công tác tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) cưới nhau tới 10 năm mà vẫn chưa có em bé. Nguyên nhân là do chị bị tắc cả hai vòi trứng, nếu không áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản thì rất khó có con.

Chị kể:

- Vợ chồng tôi là một trong mười cặp đầu tiên được lựa chọn tiến hành phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Thực sự là tôi rất lo lắng và hồi hộp! Các bác sĩ ở Trung tâm rất tận tâm, nhiệt tình, đặc biệt là động viên, khích lệ về mặt tâm lý. Kết quả ngoài sức tưởng tượng, hơn 9 tháng sau tôi sinh nở. Cháu Nguyễn Đức Trung “ra” trước, 3 phút sau đến lượt cháu Nguyễn Thị Bích Hiếu chào đời. Tôi là người duy nhất trong “đợt thử nghiệm” ấy thành công.

Trong buổi tiếp chúng tôi tại nơi làm việc, Đại tá, giáo sư, tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân Trần Văn Hanh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ phôi kiêm Chủ nhiệm Bộ môn mô phôi Học viện Quân y nhớ lại:

- Đó thực sự là những ngày tháng khó khăn đối với chúng tôi. Mặc dù thời điểm đó Việt Nam đã có hai bệnh viện tiến hành thành công phương pháp hỗ trợ sinh sản nhưng đây vẫn là lĩnh vực khoa học còn mới mẻ. Cho đến nay, ngay các nước có nền y học phát triển tỉ lệ thành công cũng chỉ chiếm khoảng từ 30 đến 35%. Rất vui là cuối cùng chúng tôi đã thành công.

Những ngày đầu, cơ sở vật chất của Trung tâm Công nghệ phôi còn thiếu thốn đủ bề. Học viện Quân y phải sắp xếp, dồn chuyển, dành ba gian phòng để Trung tâm thực hiện công việc. Còn thiết bị, ngoài một số phương tiện kỹ thuật như tủ ấm CO2 dùng để lưu giữ tinh trùng và noãn, tủ cấy vô khuẩn, kính hiển vi có kèm vi thao tác do Trung tâm cải tiến tận dụng lại, một số khác phải đi mượn. Nay, Trung tâm có hẳn một tòa nhà cao 5 tầng để làm “đại bản doanh” phục vụ công tác khám và điều trị. Cùng với đó là các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại như: thiết bị xét nghiệm nội tiết tố phát hiện một trong nhiều nguyên nhân vô sinh, máy xét nghiệm tinh dịch đồ tự động, kính hiển vi điện tử có khả năng phóng đại từ 200 nghìn đến 300 nghìn lần, hệ thống thiết bị tự động phục vụ công tác thụ tinh trong ống nghiệm…

Vẫn theo Giáo sư Trần Văn Hanh: Để thực hiện một ca thụ tinh trong ống nghiệm thực sự là một cuộc đại phẫu. Vì thế, các bước khám, kiểm tra, xét nghiệm, tư vấn tâm lý cho người bệnh là rất quan trọng. Đáng mừng là trong số hơn 900 cháu ra đời bằng các phương pháp hỗ trợ sinh sản, trong đó hơn 300 cháu bằng thụ tinh trong ống nghiệm, Trung tâm chưa để xảy ra sai xót đáng tiếc nào.

“Chuyện lạ” về những niềm vui hiếm muộn!

Tò mò tìm hiểu về công việc chuyên môn, tôi được biết, trong thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có hai phương pháp chủ yếu là thụ tinh nhân tạo (lọc rửa tinh trùng rồi bơm trực tiếp vào buồng tử cung người mẹ) và kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Căn cứ vào quá trình xét nghiệm đối với mỗi cặp vợ chồng, các bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp.

Hầu hết những cặp vợ chồng vô sinh khi tìm đến với Trung tâm Công nghệ phôi đều rất e ngại và bi quan, họ từng đi nhiều nơi, chữa trị đủ loại thuốc đông, tây y nhưng đều thất bại. Trung tá, tiến sĩ Quản Hoàng Lâm, Phó giám đốc Trung tâm Công nghệ phôi là một trong những người gắn bó với Trung tâm từ những ngày đầu thành lập, chứng kiến bao chuyện vui buồn trong quá trình khám và điều trị cho bệnh nhân. Với phong thái cởi mở, dễ gần, anh đã kể cho tôi nghe những “chuyện lạ” về những người chữa vô sinh. Nhiều người tưởng hoàn toàn tuyệt vọng nhưng cuối cùng đã có một đứa con. Sự thành công ấy chắc chắn chỉ có được trong nền y học hiện đại.

Chuyện rằng, một cặp vợ chồng ở quận Hoàn Kiếm - Hà Nội giàu “nứt đố đổ vách”, sau nhiều năm mà vẫn “im ắng” chuyện con cái. Đến Trung tâm, nguyên nhân đã được xác định là tại chồng, một kiểu bệnh rất hiếm gặp. Thất vọng, bi quan, chán nản, anh chồng lao vào những cuộc nhậu nhẹt, rượu chè giải buồn. Các bác sĩ tại Trung tâm đã tiến hành một phác đồ điều trị khá độc đáo. Kỳ diệu thay, chị đã có thai và hơn 9 tháng sau một bé trai khỏe mạnh, kháu khỉnh oe oe chào đời trước sự sung sướng đến nghẹn ngào của hai vợ chồng.

Còn chị Nguyễn Thị T, quê ở tỉnh Thanh Hóa có lẽ là người cao tuổi nhất ở Việt Nam sinh nở. Hai vợ chồng chị sống với nhau gần 20 năm nhưng không có con. Anh chồng buồn chán bỏ vợ đi với người đàn bà khác. Cú sốc “chồng bỏ, nỏ con” làm chị như người mất hồn. Trong lúc tuyệt vọng, chị tìm đến với Trung tâm Công nghệ phôi mong muốn được hỗ trợ sinh sản... Trước hoàn cảnh éo le ấy cộng với tình thương, sự cảm thông và ý nghĩa nhân đạo, Trung tâm quyết định giúp chị thực hiện ý nguyện... Hơn 9 tháng sau, niềm vui vỡ òa: Chị T sinh đôi, một bé trai và một bé gái. Niềm hạnh phúc kỳ diệu đến với người phụ nữ này khi chị đã bước sang tuổi… 51!

Tiến sĩ Quản Hoàng Lâm cho biết thêm, rất nhiều trường hợp vô sinh nguyên phát, tưởng đã hết hy vọng sinh nở nhưng đã được thụ tinh trong ống nghiệm thành công tại Trung tâm. Đặc biệt, tại đây đã thực hiện thành công phương pháp TESA-ICSI, nghĩa là tạo được phôi ngay cả với những người không có tinh trùng trong tinh dịch. Đối với những bệnh nhân này, các bác sĩ phải mổ tinh hoàn, lấy các tế bào dòng tinh (tinh tử) nuôi cấy, phân lập tạo ra các tế bào mới có khả năng thụ tinh, sau đó bơm tinh trùng trưởng thành vào bào tương của trứng, tạo thành phôi rồi đặt vào tử cung người vợ. Năm 2006, chị Hoàng Thị A, 27 tuổi, trú quán tại Hà Nội đã sinh một cháu trai nhờ áp dụng phương pháp phức tạp này.

Chia sẻ với những người hiếm muộn

Những ngày mới thành lập, mỗi ngày Trung tâm Công nghệ phôi chỉ có từ 5 đến 10 người đến khám vô sinh. Thời điểm này, con số ấy đã tăng lên từ 50 đến 70 người/ngày. Từ năm 2001 đến nay, hàng chục nghìn người đã được khám, tư vấn và điều trị. Trung tâm đang trở nên quá tải do chính chất lượng, hiệu quả và uy tín điều trị của mình. Trung tâm chỉ có số lượng cán bộ công nhân viên ít ỏi, họ vừa phải khám, chữa bệnh, vừa phải đảm nhiệm là giảng viên Bộ môn Mô phôi Học viện Quân y. Với số lượng người đến khám ngày càng đông, đội ngũ y, bác sĩ ở đây cũng khá vất vả.

Trung tâm Công nghệ phôi gắn liền với những đóng góp thầm lặng của Đại tá, giáo sư, tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân Trần Văn Hanh. Ông là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của Trung tâm. Từ những kiến thức tu nghiệp tại Hung-ga-ri và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, ngay từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, giáo sư Hanh đã mạnh dạn đề xuất ý tưởng xây dựng một trung tâm đào tạo, nghiên cứu công nghệ phôi tại Học viện Quân y và được lãnh đạo Học viện đồng ý. Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, Trung tâm có nhiệm vụ đào tạo kiến thức chuyên ngành mô học, phôi thai học trong chương trình đào tạo; tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên chuyên ngành; nghiên cứu phát triển và tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật; mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước về lĩnh vực này phục vụ công tác giảng dạy, điều trị vô sinh. Công tác khám, tư vấn, điều trị vô sinh chỉ là một trong 5 nhiệm vụ ấy. Thế nhưng, nhiều người chủ yếu biết đến Trung tâm là nhờ “thương hiệu”… chữa đẻ!

Giáo sư Trần Văn Hanh cho biết, trong thời gian tới, Trung tâm tiếp tục phấn đấu phát triển Khoa nam học - một khoa hoàn toàn mới đối với ngành y nước ta, và nó cũng mang đặc thù của lực lượng vũ trang. Bên cạnh đó sẽ tăng thêm số giường điều trị, áp dụng các phương pháp điều trị tiên tiến như sinh thiết phôi, sàng lọc ngay từ trong ống nghiệm để nâng cao chất lượng “đậu” thai, tránh những dị tật bẩm sinh. Đồng thời, nâng cao khả năng lưu phôi, tiếp tục bổ sung vào “ngân hàng tinh trùng” những mẫu tinh tốt nhất, được tuyển chọn kỹ lưỡng. Mục đích là để sử dụng cho những người không có tinh trùng hoặc tinh trùng dị dạng do nhiễm chất độc chiến tranh và những tác nhân khác.

Tôi hỏi vui giám đốc Trần Văn Hanh:

- Thưa giáo sư! Hãy đặt giả thiết, một lúc nào đó có một anh chồng đến kiện Trung tâm “Tại sao nhìn con tôi lại giống… ông hàng xóm”?

Giáo sư Hanh cười hiền:

- Nếu xảy ra tình huống như vậy tôi sẽ nói rằng: Anh nên về hỏi vợ xem trước khi đến với Trung tâm có cố tình vào nhầm nhà hàng xóm không đã chứ! Nói vui vậy thôi, chúng tôi có những nguyên tắc riêng. Trung tâm có một khoa lưu trữ tinh trùng, lưu trữ noãn và phôi, nếu nguyên nhân vô sinh do chồng hoặc vợ, chúng tôi có thể giúp họ có một đứa con. Dĩ nhiên là họ phải thực hiện đầy đủ các cam kết, trong đó có việc không được kêu ca, phàn nàn nếu đứa trẻ sinh ra chẳng giống bố mẹ.

- Nói dại, thế ngộ nhỡ khi đẻ ra, có người lại đến nhận con thì sao? - Tôi vẫn tò mò.

- Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra - Giáo sư Hanh khẳng định - Anh nên nhớ, mẫu tinh trùng, noãn và phôi trong khoa lưu trữ không có địa chỉ, chúng tôi phải tuyệt đối giữ bí mật danh tính nguồn “cung ứng” và cả người tiếp nhận.

Giáo sư Trần Văn Hanh có việc về trước. Tôi ngồi nán lại với tiến sĩ Quản Hoàng Lâm. Anh bày tỏ:

- Phần lớn những người đến đây đều là những người nghèo, đã chữa trị nhiều nơi, rất mặc cảm về bệnh tật. Chúng tôi thực sự cảm thông và chia sẻ với họ. Tôi chỉ mong các bệnh nhân càng ngày càng được tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng cao, chữa trị trên cơ sở thực tế khoa học. Hiện ở nước ta, tỉ lệ người vô sinh chung chiếm khoảng từ 8 đến 10%, như vậy sẽ có hàng triệu cặp vợ chồng có nhu cầu khám và điều trị vô sinh. Chi phí cho việc hỗ trợ sinh sản cần một khoản tiền không nhỏ, chủ yếu là mua thuốc điều trị. Vì vậy, mong các cấp hữu quan nên quan tâm, thực hiện chế độ bảo hiểm y tế ngay trong lĩnh vực khám, điều trị bệnh vô sinh. Về phần mình, chúng tôi sẽ cố gắng đến mức cao nhất để góp phần đem lại hạnh phúc cho những cặp vợ chồng hiếm muộn.

Tôi hiểu, lời tâm sự chân thành ấy đã thể hiện tâm đức của một lương y với lời thề Hyppocrates. Họ, những chiến sĩ áo trắng ở Trung tâm Công nghệ phôi Học viện Quân y vẫn lặng lẽ ươm trồng cho đời những niềm vui hạnh phúc.

Nhất Ngôn