QĐND Online – Đây là ý kiến được đại biểu Cù Thị Hậu (đoàn Hưng Yên) nhấn mạnh và được nhiều đại biểu Quốc hội đồng tình trong phiên thảo luận tại hội trường về dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) sáng 23-5…

Làm thêm giờ tối đa không quá 300 giờ trong một năm

Theo dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) có đưa ra hai phương án về quy định thời gian làm thêm. Cả hai phương án đều khẳng định bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động tối đa không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong một ngày, 30 giờ trong một tháng và tổng số không quá 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định. Tuy nhiên theo phương án 1 với một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định được làm thêm giờ tối đa không quá 300 giờ trong một năm còn phương án hai số thời gian là 360 giờ.

Các đại biểu Nguyễn Văn Tuyết, Đỗ Văn Vẻ và nhiều người phát biểu tại hội trường sáng 23-5 đều cho rằng, nên thực hiện theo phương án một và chỉ ra, quy định này phù hợp với điều kiện, thể chất người lao động Việt Nam, tạo cơ hội việc làm cho nhiều người lao động, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và năng lực quản trị doanh nghiệp. Việc kéo dài thời giờ làm thêm là chưa phù hợp với xu hướng tiến bộ, khi trình độ công nghệ ngày càng phát triển, tay nghề của người lao động và giá trị sản phẩm tăng lên thì thời giờ làm việc phải giảm dần nhằm bảo đảm sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết (đoàn Bà Rịa-Vũng Tàu) phát biểu ý kiến

Mặt khác, việc tăng thời giờ làm thêm mà chủ yếu là trong nhóm lao động phổ thông, nhóm ngành nghề thâm dụng lao động có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp tính không đúng mức tiền lương của người lao động trong thực tế, giảm bớt chi phí đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, tạo điều kiện cho người sử dụng lao động khai thác sức lao động, dẫn đến hậu quả người lao động sẽ cạn kiệt sức lao động sớm hơn so với tuổi lao động. Kinh nghiệm thực tiễn của một số nước cho thấy, năng suất lao động trong thời gian làm thêm giờ thường giảm sút và dễ gây ra tai nạn lao động.

Phân tích cho việc chọn phương án một, đại biểu Cù Thị Hậu chỉ ra, nếu áp dụng thời gian tối đa là 360 giờ thì một lao động trong năm chỉ được nghỉ 7 ngày thứ bẩy và chủ nhật. Với số ngày nghỉ thế này, cuộc sống gia đình, con cái của người lao động sẽ như thế nào? người lao động có thể hồi phục sức lao động không? Việc sa thải lao động không còn đủ sức lao động đáp ứng yêu cầu công việc vẫn diễn ra. Với việc làm thêm tới 360 giờ sẽ khiến người lao động không thể tái tạo sức lao động và bị sa thải, phải chăng là việc “vắt chanh bỏ vỏ”-vắt kiệt sức lực của người lao động rồi loại bỏ họ. Chúng ta không thể để việc này xảy ra, do vậy, cần lựa chọn phương án một. So với phương án hai, người lao động sẽ có thêm 7,5 ngày để nghỉ ngơi, chăm sóc gia đình và tái tạo sức lao động.

Quy định lương tối thiểu là tích cực nhưng cần thực hiện đúng

Hiện nay, mức tiền lương tối thiểu đang được xác định theo 4 vùng kinh tế - địa lý và đã có sự thống nhất một mức chung giữa các loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân từ năm 2011. Về nguyên tắc, tiền lương phải được coi là giá cả sức lao động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước và mức lương tối thiểu phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động. Chính phủ phải điều chỉnh mức lương tối thiểu khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao, làm cơ sở cho các doanh nghiệp điều chỉnh tiền lương kịp thời nhằm bảo vệ người lao động, hài hòa được lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động. Dự thảo Bộ luật cũng quy định về Hội đồng tiền lương Quốc gia (Điều 94) với thành phần đại diện của các bên (đại diện người lao động, đại diện người sử dụng lao động, cơ quan quản lý nhà nước…) thực hiện chức năng tư vấn, thẩm định, đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước về mức tiền lương tối thiểu, tham gia xây dựng chính sách tiền lương quốc gia… Hội đồng quốc gia về tiền lương là cơ chế mới so với Bộ luật hiện hành, thể hiện được đặc trưng của quan hệ lao động, qua đó tiền lương được xem xét công khai, toàn diện hơn, phù hợp với thị trường lao động và xu hướng tiến bộ của các nước trên thế giới.

Bên cạnh đó, do đặc thù của quan hệ lao động, nhà nước không chỉ thực hiện chức năng thực thi pháp luật, mà còn đóng vai trò là cơ quan trung gian, bên thứ ba, với trách nhiệm định kỳ cung cấp thông tin về tiền lương, hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động, đại diện người sử dụng lao động thương lượng, thỏa thuận về tiền lương để ký kết hợp đồng lao động, các thỏa ước lao động tập thể, đặc biệt là thỏa ước lao động tập thể ngành để có thể nâng mức tiền lương tối thiểu so với tiền lương tối thiểu do Chính phủ công bố.

Các đại biểu đều cho rằng, việc quy định như trong dự thảo là thể hiện sự tiến bộ, quan tâm của Đảng và Nhà nước tới đời sống nhân dân. Tuy nhiên, một số đại biểu chỉ ra, việc quy định tốt, nhưng việc thực hiện không tốt thì quy định tốt cũng không đem lại nhiều giá trị. Nhiều đại biểu đề nghị, phải có sự giám sát chặt chẽ về thực hiện thang, bảng lương cũng như có kiến nghị kịp thời, chính xác để điều chỉnh lương cho phù hợp. Đại biểu Đặng Ngọc Tùng (đoàn Đồng Nai) bày tỏ: “Tôi muốn Chính phủ “lắng nghe” và đưa ra mức lương tối thiểu sát với mục tiêu, đáp ứng được cuộc sống của người dân. Chứ lương tối thiểu hiện nay mới chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu”.

Trong phiên thảo luận các đại biểu đều bày tỏ sự đồng tình với phương án quy định, người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng.

Xuân Dũng