QĐND - Năm 2014, dù đã bước vào tuổi 84 nhưng bà Nguyễn Thị Hồng Minh, hiện ở nhà số 22C, phố Đặng Dung (Hà Nội), nguyên y tá, chính trị viên Đội điều trị 2, Cục Quân y vẫn giữ được nét đài các của người con gái Hà Nội cùng sự minh mẫn tuyệt vời. Trong tâm trí bà, những khốc liệt, gian khổ của chiến tranh, khoảnh khắc cận kề với cái chết mà bà và đồng đội từng trải qua cũng như những quyết định quan trọng nhất của cuộc đời sẽ mãi không bao giờ phai mờ…
 |
|
Bà Nguyễn Thị Hồng Minh và chồng trong ngày tiếp quản Thủ đô tháng 10-1954. Ảnh nhân vật cung cấp
|
Bên bình hoa sen trắng tỏa hương dìu dịu, với chất giọng nhẹ nhàng, ấm áp, bà Minh bồi hồi kể về những kỷ niệm đã ăn sâu vào ký ức. Là con gái út trong một gia đình người Hà Nội gốc có 4 chị em gái, nên từ nhỏ bà được mọi người cưng chiều. So với 3 chị gái thì bà Minh là người rất có cá tính. Năm 1947, cùng gia đình tản cư lên Vĩnh Phúc, bà nhanh chóng bị cuốn vào hoạt động phong trào quần chúng ở địa phương.
Tuổi 20 đẹp nhất của cuộc đời bà được đánh dấu bằng quyết định mạnh mẽ, can trường: Xung phong nhập ngũ ra tiền tuyến chống quân thù. Bà được biên chế vào Đội điều trị 2 (tham gia Chiến dịch Trần Hưng Đạo), đóng quân ở chân núi Tam Đảo, làm nhiệm vụ tuyển dân công, tiếp tế, tải thương, xây dựng lán trại và chăm sóc, cứu chữa thương binh.
Kết thúc Chiến dịch Trần Hưng Đạo, bà theo tiếp Chiến dịch Hoàng Hoa Thám. Sau 21 ngày hành quân ròng rã, cả đội mới đến được mặt trận. Ba lô trên vai chưa kịp đặt xuống, mọi người lập tức bắt tay vào làm nhiệm vụ, tập trung phân loại thương binh theo mức độ để giữ lại điều trị hoặc gửi chuyển tuyến sau… Công việc căng thẳng, bận rộn và luôn trong tình thế cận kề nguy hiểm, nhưng chính trong thời khắc đó, bà đã gặp mối lương duyên thật đẹp của cuộc đời.
Kể đến đây, nét mặt bà Minh trở nên rạng rỡ và tươi tắn như cái thuở đôi mươi. Bà bồi hồi nhớ lại khoảnh khắc khi “chiếc dép bị tuột” trong một lần rửa chân bên bờ ao. Đúng lúc ấy, chàng trai người Hà Nội có tên là Hồ Toàn (cùng đội công tác) đã cẩn thận nhặt lại giúp khiến trái tim cô y tá, trở nên “loạn nhịp”. Trong chiến tranh, sự sống và cái chết gần nhau gang tấc; thế nhưng chính giữa ranh giới mong manh đó lại cho con người ta niềm tin mãnh liệt và hạnh phúc đến tuyệt vời. Chuyện tình của hai người cũng không nằm ngoài chân lý đó.
Thời kỳ đó, nam nữ muốn tìm hiểu và đi đến hôn nhân phải được sự đồng ý của chi bộ. Tính đến nay, tuy đã 63 năm trôi qua nhưng bà vẫn rất nhớ chi tiết nội dung ghi trong quyết định của chi bộ (được đóng dấu đỏ): “Tổ chức đồng ý cho hai đồng chí được phép tìm hiểu nhau dựa trên tinh thần nghiêm trang, lịch sự, tôn trọng, thương yêu nhau. Trong quá trình tìm hiểu, cả hai phải hết sức gương mẫu trước quần chúng”. Được chi bộ đồng ý nên cùng với thời gian, tình cảm của hai người cứ thế ngày càng sâu nặng, thắm thiết hơn. Và rồi, họ quyết định báo cáo chi bộ, báo cáo đơn vị chọn ngày 26-12-1951 để tổ chức đám cưới.
Công tác chuẩn bị cho đám cưới được chuẩn bị chu đáo. Hai bên gia đình, bạn bè, đồng đội cũng được thông báo rõ ràng, cụ thể. Nhưng đúng ngày cưới thì cô dâu đột ngột… “biến mất” khiến chú rể Hồ Toàn một phen ngẩn ngơ, thẫn thờ. Chuyện là, cách đám cưới 3 ngày, bà được cấp trên giao nhiệm vụ đột xuất tham gia Chiến dịch Hòa Bình, trong khi chú rể lại ở xa, không có cách gì báo được. “Lúc đó tôi chỉ nghĩ rằng, mình không thể vì hạnh phúc cá nhân mà quên đi trách nhiệm với Đảng, với cách mạng, với Tổ quốc và nhân dân. Ai ở hoàn cảnh tôi lúc đó cũng sẽ làm như thế!”-Bà Hồng Minh chia sẻ. Vì vậy, ngày bà Hồng Minh lên đường nhận nhiệm vụ thì lễ cưới vẫn được nhà trai chuẩn bị theo kế hoạch. Chú rể cùng đoàn đón dâu chở đồ lễ từ Cao Bằng về Thái Nguyên (nơi đơn vị cô dâu đóng quân) chỉ nhận được lá thư cô dâu để lại với lời xin lỗi vội vàng và lời hẹn ngày gặp lại.
Ngừng lại hôi lâu, bà Minh kể tiếp: "Tôi tưởng khi đó ông ấy sẽ rất giận. Nhưng ngược lại, sau đó ít ngày, tôi nhận được lá thư dài 23 trang của ông ấy gửi cho tôi. Ông ấy không những không giận tôi, mà còn động viên tôi yên tâm công tác, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ”.
Và hạnh phúc của ông bà hòa chung niềm vui thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Ngay sau thắng lợi, hai người đã tổ chức lễ thành hôn tuy giản dị nhưng ngập tràn hạnh phúc, yêu thương. Đêm tân hôn, đồng đội lấy chăn quây kín một góc lán làm buồng hạnh phúc cho đôi uyên ương.
15 ngày trăng mật trôi qua, bà lại trở về nhiệm vụ của mình, còn ông tiếp tục hành quân hết mặt trận này tới mặt trận khác. Tình cảm vợ chồng hòa cùng tình yêu Tổ quốc và khí thế cách mạng của lứa tuổi thanh xuân trở thành những đề tài bất tận trong từng lá thư hai người gửi cho nhau. Thư đi thư lại lên tới hơn 500 bức, mỗi lá đều được đánh số cẩn thận. Bà bảo, mặc dù có với nhau 4 người con nhưng ông là người thiệt thòi vì chưa một lần được chứng kiến giây phút chúng tập lẫy, tập bò, tập đi… Tất cả do nhiệm vụ nên ông bà không có nhiều thời gian bên nhau, nhưng tình yêu hai người luôn nồng thắm, mãnh liệt. Ông và bà trải qua nhiều cương vị công tác, mãi đến năm 1980, họ mới được ở gần nhau.
Giờ đây, mỗi dịp đại gia đình sum họp, bà lại kể cho con cháu nghe về những kỷ niệm đẹp của một thời gian khổ, ác liệt nhưng rất đỗi tự hào của ông và bà. Dẫu bây giờ, bà đã “vắng” ông 5 năm, nhưng kỷ niệm về tình yêu của ông bà dành cho nhau vẫn luôn đầy ắp trong căn nhà nhỏ. 500 bức thư tình ông bà viết cho nhau vẫn còn nguyên vẹn, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, cùng chuyện về một cô dâu đã từng “biến mất” đúng ngày cưới để lên đường làm nhiệm vụ là bằng chứng về một thế hệ đã sống, đã yêu và cống hiến trọn vẹn cho Tổ quốc, cho dân tộc.
KIM ANH