 |
|
Vũ Văn Tuấn (giữa) và bố mẹ |
Bạn bè gọi cậu ta là Tuấn “Quỳnh Dao”! Vì sao? Không một ai giải thích. Chỉ biết cậu sinh ra từ một tình thương rất lớn.
Chả là, bố Tuấn - ông Vũ Văn Dần - quê ở Yên Trung (Yên Định, Thanh Hóa) vốn là một người mù bẩm sinh. Thời trai trẻ, ông Dần luôn tự nhủ rằng phận mình mù lòa, chẳng đèo bòng yêu thương ai cho mệt. Nhưng rồi mẹ Tuấn, một cô thôn nữ khá xinh đẹp của huyện miền núi Cẩm Thủy (Thanh Hóa) vì tan vỡ mối tình đầu, lâm vào đường cùng phải bỏ làng mà đi. Cô cứ đi mãi mà không biết dừng lại ở đâu, chỉ đến lúc trở dạ đẻ thì gặp được cụ Giáp (là ông nội của Tuấn bây giờ). Cụ đưa cô về nhà chăm sóc. Bố Tuấn khi ấy là chàng trai trẻ bị mù, hỏi chuyện mới biết cô gái nhỡ nhàng kia cùng tuổi với mình nên anh hay lân la chuyện trò, rồi anh động viên cô rằng: “Chẳng tội gì phải chết. Cô khổ nhưng cuộc sống còn có ban ngày lẫn ban đêm. Tôi đây ngày cũng như đêm mà vẫn còn thấy yêu đời, thấy cuộc sống thật là đáng sống”.
Nói Tuấn là niềm đau của một tình thương là vì thế. Khi mẹ Tuấn quyết định kết hôn với chàng trai mù đã động viên cô đúng lúc, bà đã tặc lưỡi: “Thôi thì chằng buộc lấy nhau, biết đâu có được đứa con làm hạnh phúc cho đời”. Bà đã đúng, khi Tuấn và cô em gái Vũ Thị Quỳnh lần lượt ra đời trong niềm vui của cả dòng họ, xóm làng. Thế nhưng, cả Tuấn và Quỳnh đều bị di truyền… đôi mắt của bố.
Ông trời cũng biết bù trừ. Đó là, từ nhỏ, Tuấn đã tỏ ra rất thông minh và ham học hỏi. Mẹ Tuấn kể, lúc 6 tuổi, nghe các bạn rủ nhau đi học, Tuấn ríu rít đòi mẹ cho đến trường. Bà phải giấu đi những giọt nước mắt chảy tràn để dỗ dành Tuấn: “Nhà mình nghèo, bố mẹ chưa đủ tiền cho con đi học”. Có hôm bà đi làm về không thấy Tuấn, vội bổ đi tìm. Chạy ra trường tiểu học, thấy Tuấn đang vịn cửa sổ ngóng vào lớp nghe cô giáo kể chuyện cổ tích, bà oà khóc.
Năm 1996, Hội người mù của huyện tổ chức lớp dạy chữ nổi. Nghe tin được gọi đi học, Tuấn vui mấy ngày liền, có hôm đang nửa đêm cũng bật dậy hát. Mẹ làm nghề lượm ve chai - sắt vụn nên có điều kiện đạp xe chở Tuấn đến lớp. Nhờ thế mà Tuấn biết đọc, biết viết nhưng huyện chỉ mở chương trình lớp 1, muốn học lớp 2 thì phải chuyển lên thành phố Thanh Hóa. Dù chỉ mất dăm chục nghìn tiền ăn mỗi tháng, nhưng với hoàn cảnh của bố mẹ Tuấn cũng là một gánh nặng, rất nặng. Vì thế, chỉ được ít bữa, người bố mù phải lần mò lên thành phố để thuyết phục Tuấn thôi học.
Tuấn buồn lắm, bạn bè cùng thôn cũng buồn cho Tuấn. Trong tận cùng nỗi buồn lại có một người bạn rỉ tai Tuấn bảo rằng: “Răng mi không ra trường học ví bọn tau”. (Sao không ra trường học chung với bọn tớ). Ừ nhỉ, cứ học hòa nhập thì đã sao. Thế là được sự giúp đỡ của thầy cô trường tiểu học Yên Trung, Tuấn lại được đến trường. Dù mới học dở lớp 2, Tuấn “nói dối” với nhà trường là đã học xong (để xin được học lớp 3). Bạn bè giúp đỡ nhiều, nhưng tuổi thơ ai mà chu đáo cho hết, có hôm các bạn thách nhau xem ai đi nhanh đến lớp, một mình Tuấn lẫm chẫm trên đường đến trường, con đường có hai cái ao hai bên, nhưng Tuấn thì không nhìn thấy, cậu bước hụt rồi tụt xuống ao sâu, đang lóp ngóp vùng vẫy thì các bạn chợt nhớ ra, quay lại cứu cậu thoát chết… Khổ thế, thử thách là thế nhưng năm nào Tuấn cũng là học sinh giỏi toàn diện. Tuấn học giỏi thật, chứ không phải thầy cô cho điểm “động viên”. Cậu tâm niệm: “Người sáng kiên trì một, mình phải kiên trì mười thì mới theo kịp họ”. Hôm nào học hết buổi, Tuấn cũng “túm” lấy một người bạn, bảo giở vở ra, rồi đọc cho người bạn ấy soát lại những gì đã ghi được, xem khác nhau hay thiếu chỗ nào. Học “tài tử” thế, thì giỏi cũng đúng.
Chúng tôi đến thăm Tuấn đúng vào ngày chủ nhật. Gian nhà nhỏ, thấp lè tè của gia đình nằm sâu trong một cái ngõ tút hút. Tiếng sáo vi vút, dặt dìu từ ngôi nhà ấy phát ra, nghe thanh thoát, phơi phới. Hóa ra, Tuấn còn nhiều tài lẻ, hát khá hay, thổi sáo thì thôi rồi… mê li. Tuấn khoe với chúng tôi tờ chứng nhận giải nhất toàn quốc, giải nhì Đông Nam Á cuộc thi “Chữ Braille trong cuộc đời tôi”, và đọc vanh vách những đoạn văn trong bài thi đó: “Cuộc đời tôi sẽ mãi mãi chìm trong bóng đêm nếu không được học chữ Braille. Mỗi khi nghe tiếng trống trường và tiếng gọi nhau í ới của bạn bè đến lớp, tôi tưởng như có trăm nghìn mũi kim đâm vào lòng đau nhói...”. Gần chục trang giấy, Tuấn nói lên khát vọng, lòng quyết tâm thoát khỏi bóng tối bằng chữ Braille. Có đoạn, Tuấn viết văn mà như đang làm thơ: “Tôi tặng bạn màu xanh hy vọng. Mong một ngày cuộc sống sẽ sáng hơn. Tôi tặng bạn lá cờ Tổ quốc. Màu đỏ linh thiêng nhuộm máu biết bao người. Tôi tặng bạn màu trắng cánh diều. Chở đến phương xa bao điều mơ ước...”.
Giải thưởng đó đem lại cho Tuấn một khoản tiền thưởng kha khá (gần chục triệu) và rất đúng lúc vì trước đó, mẹ Tuấn bị một khối u trong người. Bố Tuấn đi vay mượn được 3 triệu đồng để “mổ chui” cho mẹ. May thay, ca mổ thành công, trả mẹ về với anh em Tuấn nhưng khoản nợ thì cứ to dần, không sao trả được. Tuấn và em gái có cuốn sổ lĩnh tiền trợ cấp khuyết tật của Nhà nước (mỗi tháng được 65.000 đồng/người) hiện đang bị chủ nợ giữ để trừ dần. Nhờ được thưởng, Tuấn được nhiều người biết đến, nhiều tấm lòng thơm thảo đã giúp đỡ Tuấn nhưng Tuấn không lấy tình thương của mọi người làm giải pháp cho cuộc sống của mình. Tuấn mơ một ngày được làm thầy giáo, có thu nhập, để được mọi người nhìn nhận đúng hơn. Năm nay Tuấn 20 tuổi, điều mong mỏi thiết tha nhất của Tuấn là: “Đừng thương hại ai, điều đó dễ làm người khuyết tật thêm tự ti khi hòa nhập. Hãy gọi tôi là mày, là hắn, bình đẳng như mọi người khác”.
Rồi bất chợt, Tuấn hỏi chúng tôi hoa “Quỳnh Dao” đẹp như thế nào mà mọi người lại gán làm tên đệm cho Tuấn. Chúng tôi ậm ừ nói, “hoa quỳnh cành dao” là một điển tích cảm động về tình yêu, hoa chỉ nở về đêm với màu trắng sáng. Tuấn bảo không rõ màu trắng sáng là gì, Tuấn sẽ học văn thật giỏi, để diễn tả màu trắng hoa quỳnh bằng ngôn ngữ của người sống trong bóng đêm…
Chia tay Tuấn, chúng tôi ra về lặng lẽ, nghị lực của Tuấn đã nói lên nhiều điều.
Bài và ảnh: HỒNG HẢI