Năm nay năm Tý-bác Minh Vân-Nguyễn Đình Quảng vào tuổi tám mươi lăm. Tết năm vừa qua, một pho tượng đá “được gặp” con người thật đã thổi hồn vào đá. Đó là tượng đài bất khuất sừng sững trước địa ngục Chín Hầm ở Huế và người đã nhập hình ảnh của mình vào đá là đồng chí tử tù nằm dưới huyệt: bác Minh Vân.
Tôi đứng ra xa, ngắm nhìn cả bản gốc và phiên bản và suy nghĩ: Đá được bao năm thì mòn? Người bị đày đọa tan nát thế này và đã vượt ngưỡng 80 thì còn được bao lâu? Nhưng chắc chắn là còn lại lâu dài cái tinh thần chiến sĩ Việt Nam vượt qua thân xác, bền hơn đá.
Trong đỉnh điểm của thời kỳ Tố Cộng, những “vị khách” được Diệm, Nhu, Cẩn, truy lùng bậc nhất là các cán bộ lãnh đạo tỉnh ủy, thành ủy, khu ủy và các nhà tình báo chiến lược. Bác Minh Vân thuộc dạng thứ hai.
Bác bị bắt năm 1957. Mật vụ Sài Gòn ra tay. Tất cả cực hình ở trại Pê Ca-răng-đơ (P.42) thì bác trải qua, y nguyên như chuyện kể trong sách “Bất khuất” của ông Nguyễn Đức Thuận.
“Cụ cố vấn Trung Phần” Ngô Đình Cẩn hay tin đó đã chê mật vụ Sài Gòn và CIA chỉ giỏi hung bạo, làm sao lung lạc được các “thánh tông đồ” cộng sản.
Bác Minh Vân được “rước” ra Huế cho “tìm hiểu chính sách mới” của cố vấn Trung Phần. Thế là ba năm ròng, chuyện đánh đập, kìm kẹp tăng lên từng bước ở các nhà lao Huế, nhưng việc mua chuộc, dụ dỗ thì tuyệt đỉnh. Đêm giao thừa Tết 1958, Ngô Đình Cẩn lệnh cho nhà lao Thừa phủ bày tiệc mời “các ông kháng chiến” và đích thân Cẩn cũng đến ngồi vào bàn ăn. Cẩn nói: “Các anh là những cán bộ ưu tú của miền Bắc, đã có công tham gia cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Pháp. Xin mời các anh “chuyển hướng hoạt động” để cùng chúng tôi xây dựng lại miền Nam thái bình, thịnh vượng. Cán bộ miền Bắc rất giỏi. Miền Bắc là anh, miền Nam là em. Các anh về với miền Nam là hồng phúc cho dân tộc v.v..”. Mật ngọt đắng thật!
Bác Minh Vân đau đớn ngồi nhìn các khuôn mặt đồng chí quen thuộc đã sa vào tay địch. Ai sẽ sa ngã, ai đứng được? Tay chân của Cẩn, không đọc được gì trên nét mặt bác Minh Vân. Chúng ném bác vào tù. Ngô Đình Cẩn vẫn không lùi, y ra đòn tiếp.
Một chiều sau đó, Lê Khắc Duyệt, giám đốc công an Trung Việt, đến nhà tù, mời bác Minh Vân lên xe ô tô. Đi đâu vậy? Duyệt nói: “Tôi đưa anh đi gặp cụ cố vấn. Đây là dịp tốt đặc biệt để anh trình bày với cụ điều gì anh chưa tiện nói giữa chỗ đông người”.
Xe chạy thẳng xuống ngôi biệt thự sang trọng, kín đáo của Ngô Đình Cẩn dưới cửa biển Thuận An. Cẩn đã thay khuôn mặt, tạo ngay không khí bạn bè. Bác Minh Vân nhớ lại. Hôm đó Cẩn tự xưng mình “là người kế thừa sự nghiệp của cụ Phan Bội Châu”. Cẩn ca ngợi những người kháng chiến muốn “quay trở về” và hứa hẹn “tùy tài bổ chức”. Rồi Cẩn đẩy tới:
- Gia đình tôi biết cụ thân sinh của bạn là người có khí phách ngang tàng. Tôi rất kính trọng cụ. Bạn rất xứng đáng với truyền thống gia đình, bạn hãy về đây cộng tác với chúng tôi.
Bác Minh Vân nói: Hướng của tôi đi là đánh mọi quân xâm lược, thống nhất đất nước. Việc làm đó là đúng. Tôi không thể chuyển hướng được.
Cẩn nín nhịn:
- Tôi biết bạn còn phải suy nghĩ. Tôi sẵn sàng gặp lại bạn khi nào bạn thấy cần. Bạn muốn nói gì thì cứ trực tiếp nói với tôi. Thuộc hạ của tôi đâu có xứng tầm với bạn.
Bác Minh Vân đứng dậy. Cuộc đối đầu trực tiếp coi như chấm dứt. Thời gian sau, Cẩn lặng lẽ ra lệnh đưa “ông bạn” xuống nhà mồ chôn luôn cho chết. Đó là Chín Hầm.
|
- Dãy xà lim tử tội ở Chín Hầm-mỗi cái ngang bốn tấc, dài chín tấc. Kích cỡ cái quan tài. Đó là xà lim tuyệt đối, chỉ đến chết thì mới được lôi xác ra. Không bao giờ thấy ánh sáng, không bao giờ được tắm rửa. Tấm ván đáy nơi người tù nằm quằn quại luôn tanh hôi, nhờn máu, mủ và phân người.
- Sống dưới đó 724 ngày đêm, nằm trên tấm ván đó, bấp bênh hấp hối mà bác vẫn làm thơ chiến đấu. |
Một số anh em ở tù cùng thời còn nghe được câu Ngô Đình Cẩn huấn thị cho bọn mật vụ tay sai:
“Các con nên nhớ câu nhử cộng sản cũng phải biết câu nhử từ từ. Kinh nghiệm câu cá chình, qua biết (qua là tiếng miền Nam có nghĩa là tôi hoặc ta đây) cá chình cắn câu rồi nhưng nó vẫn quấn cái đuôi nó vào hốc đá, ta giật mạnh là đứt mất lưỡi câu. Phải biết giữ dây cước cho căng, ghìm từ từ, nó nhoài tới đâu ta kéo ra tới đó, thế mới bắt được cá. Qua nhắc lại: phải giữ dây cho căng, nghĩa là phải luôn làm cho tinh thần chúng nó căng thẳng, không lúc nào được nghỉ ngơi, nhất là đối với bọn ngoan cố. Hành hạ nó cũng phải hành hạ từ từ, giết nó cũng phải giết từ từ, mới mong có đứa hối cải. Phải làm cho nó thấy nếu nó không chịu khai báo, không thừa nhận chính nghĩa quốc gia thì nó chỉ còn cái chết. Ta không được vội vàng, vội vàng là thất bại”.
Tháng 11-1961, bác Minh Vân bị lôi xuống huyệt, cửa sắt kín bưng. Đó là thủ đoạn cuối cùng “phải cho hắn nghe tiếng rên hấp hối của những thằng đồng chí kháng chiến nằm quanh hắn, may ra…”. Đó là tia hy vọng của Cẩn nhưng trước sau hơn hai nghìn ngày ra đòn, cả nhà Diệm, Nhu, Cẩn, chẳng nhận được hồi âm.
Bốn mươi lăm năm sau, giờ đây giữa nắng gió đất trời, một nhà điêu khắc từng trải đã nài nỉ bác Minh Vân vào bảo tàng tình báo, lấy cái áo bao tải tơi tả đã che thân bác khi còn dưới huyệt mà mặc vào, để cho nhà điêu khắc ngắm nhìn ông trước khi tạc hình vào phiến đá.
Cụ Minh Vân của hôm nay khi khoác chiếc áo bao tải nhà tù, tay run run, tim thắt lại, nước mắt chực tuôn ra. Bao nhiêu cơ cực, bao nhiêu thương nhớ hiện về rồi mắt cụ lại sáng lên, lưng đứng thẳng. Ngày ấy cụ từng dứt khoát không quỳ gối. Nhà điêu khắc vội chộp lấy cái tinh thần ấy. Trong đêm đen địa ngục cụ đã lần lượt nhẩm ra ba nghìn câu thơ tố cáo. Tập thơ phi thường này đã hai lần xuất bản. Và tượng đài “Bất khuất” đã được dựng lên trước di tích lịch sử ở ngoại thành Huế.
| * Tôi được biết bác Minh Vân từ thời trẻ ở Huế khi tôi mới bước vào trường Quốc học, bác đã ở ban tú tài, bác theo Việt Minh từ lúc nào. Bác là một thanh niên thuần khiết của tinh thần thuần khiết thời Cách mạng Tháng Tám. Là một chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ, bác đã vượt qua thử thách cực kỳ khắc nghiệt.
Tôi lại tự hỏi còn có gì nữa trong sự phi thường ấy. Ngày chống Pháp, khi vỡ mặt trận Huế, Đà Nẵng, tôi có lên vùng quê Đại Lộc, Quảng Nam và ở trong ngôi nhà cụ thân sinh ra bác Minh Vân, là cụ Nguyễn Đình Hiến.
Cụ là một trong tứ hổ của tỉnh Quảng Nam thời Nho học, là đồng song với các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh. Ba cụ sau làm cách mạng. Cụ Nguyễn Đình Hiến ra làm quan triều đình.
Có một chuyện được truyền tụng về quan phủ Nguyễn Đình Hiến. Khi cụ Trần Quý Cáp chống Pháp đô hộ, bị xử tội chém ở Khánh Hòa, con trai cụ Cáp lén gom di hài của cha, cho vào đôi bồ, gánh về quê. Cụ Nguyễn Đình Hiến, lúc đó là tri phủ Hoài Nhơn (Bình Định), hay tin đã lập hương án trước phủ đường, công khai nghinh đón đôi bồ, bái khóc trước di hài liệt sĩ, không sợ liên lụy, không sợ tù đày. Viên đại lý Pháp ở phủ Hoài Nhơn vội báo lên tên công sứ Pháp ở tỉnh Bình Định… Đến năm 1947, khi cụ Huỳnh Thúc Kháng, là Phó chủ tịch nước Việt Nam, đi thị sát miền Nam kháng chiến, cụ Huỳnh đã lên ở nhà cụ Nguyễn Đình Hiến, hai ngày đàm đạo, tương đắc, cụ Huỳnh làm đôi câu đối sinh điếu (điếu khi còn sống) tặng cụ Nguyễn. Cụ Nguyễn làm bài thơ tặng lại cụ Huỳnh.
Bác Minh Vân lại còn một bà chị gái, tên là Nguyễn Tường Sính. Hồi con gái, chị Sính thường theo mẹ vào cung, hầu bà Từ Cung. Thấy chị Sính xinh xắn, nết na, bà Từ Cung như có ý vun quén giữ chị Sính cho con trai mình là Vĩnh Thụy đang còn du học bên Pháp.
Bà Từ Cung cho chị Sính được học đàn, học chữ. Nhưng lầu son chẳng nhốt được người, chị Sính bỏ trốn và giấu mình trong một nhà tu kín. Khi quay về đời thường, chị Sính tìm đọc tân thư của Trung Quốc, đọc thơ văn các chí sĩ Việt Nam. Chị theo chồng trong các hoạt động cách mạng. Chồng chị chết sớm, Huyện ủy Cộng sản đứng ra bí mật làm lễ tang.
Ngẫm mấy năm, mấy trường đoạn phi thường của bác Minh Vân-Nguyễn Đình Quảng quả là có nguồn cơn của nó, cách mạng thời nào thì có người chiến sĩ tiêu biểu thời ấy.
Lại liếc qua chuyện riêng gia đình bác Minh Vân, còn thấy thêm hình ảnh cha nào con nấy, chị nào em nấy cộng vào trong một giọt máu của họ Nguyễn ở Đại Lộc. |
PHẠM HỒI