QĐND - Phạm Hữu Phú, sinh năm 1948, quê ở xã Thăng Long, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Tháng 3-1967, anh tình nguyện vào quân đội và 7 tháng sau thì đi B, thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 33, Đoàn B25B - một đơn vị đã lập nhiều chiến công vang dội suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

Trong một trận quyết chiến với địch (tháng 10-1968) ở chiến khu Bời Lời, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh sau khi bị thương nặng, ngất lịm tại trận địa. Khi tỉnh dậy, anh mới biết mình đã rơi vào tay giặc. Đơn vị tổ chức lực lượng tìm kiếm, nhưng không hề nhận được dấu tích gì, thế là tưởng anh đã  hy sinh, nên báo tử về địa phương.

Sau khi bị bắt, địch đưa anh về giam tại nhà tù Hố Nai, Biên Hòa. Ngày 1-8-1969, chúng tiếp tục đưa anh và một số đồng chí ra nhà tù Phú Quốc, giam tại trại C4. Qua một thời gian ở đây, anh bắt được liên lạc với tổ chức đảng trong nhà tù và được các đồng chí tiếp nhận để sinh hoạt Đảng, tăng thêm sức chiến đấu trước chế độ hà khắc của kẻ thù.  Đầu tháng 7-1970, anh em trại tù C4 hưởng ứng phong trào đấu tranh đòi hủy bỏ yêu sách phi lý của chế độ nhà tù. Bọn cai ngục đã cho quân lính xả súng bắn tù binh ta. Anh Phú bị thương rất nặng, địch đưa anh về Cần Thơ điều trị rồi chuyển anh về trại D5.  Đồng đội ở trại tưởng anh đã hy sinh, tổ chức làm lễ truy điệu và bí mật báo cáo cho tổ chức bên ngoài biết. 

Sau ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết, tháng 3-1973, anh Phú cùng các chiến sĩ cách mạng được trao trả ở bờ Nam sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị, trong sự đón tiếp ân cần và đầy cảm động của đồng bào, đồng chí.  Về thăm quê hương, gia đình, lúc này anh Phú mới biết mình đã có giấy báo tử từ hơn 4 năm trước. Và cũng chừng ấy năm, gia đình lập bàn thờ anh. Ở nghĩa trang liệt sĩ xã nhà, địa phương cũng đã lập mộ chí và khắc tên anh lên tấm bia có hình ngôi sao vàng năm cánh.

Cả kỳ nghỉ phép ấy, hầu như nhà anh ngày nào cũng có khách đến thăm. Mọi người đến chúc mừng anh được “cải tử hoàn sinh”. Trước khi trở lại đơn vị, anh xin phép chính quyền địa phương được đưa tấm bia có khắc tên “liệt sĩ” của mình về lưu giữ tại nhà riêng như một kỷ niệm của một thời đi đánh giặc.

NGUYỄN QUỐC