Nói đến hoạt động của doanh nghiệp trước hết là nói đến lợi nhuận, kể cả với doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng mấy tháng qua, điều này không hẳn đúng với nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Bởi vì, như

Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông và Tổng Công ty Viễn thông Quân đội đã có nhiều đợt giảm cước các dịch vụ viễn thông khác nhau.Ảnh: Internet

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà khẳng định: Chính phủ rất hiểu và chia sẻ với các doanh nghiệp nhà nước khi phải “gồng mình” lên để vừa bảo đảm đủ hàng hóa cho tiêu dùng, vừa bảo đảm kiềm chế giá để chống lạm phát.

Chịu lỗ hoặc lãi ít để bình ổn thị trường

Theo Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước thì trong 6 tháng đầu năm, 7 tập đoàn, 67 tổng công ty nhà nước đạt tổng doanh thu hơn 510.000 tỷ đồng, gần 60% kế hoạch năm, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm 2007 và hầu hết số tập đoàn, tổng công ty nhà nước kinh doanh có lãi. Thế nhưng khá nhiều doanh nghiệp chấp nhận lỗ. Để có lãi thì rất đơn giản: Giá các nguyên vật liệu đầu vào, đặc biệt là giá xăng, dầu thế giới tăng cao, giá thành sản phẩm tăng theo thì tăng giá bán và tạm ngừng hoặc giảm sản xuất. Song, một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước không tăng giá bán sản phẩm, đồng thời duy trì mức sản xuất- kinh doanh, chấp nhận lỗ để thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường, giá cả theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Điểm nóng nhất là xăng, dầu. Giá xăng, dầu tác động trực tiếp tới chi phí trong toàn bộ các ngành sản xuất-kinh doanh và đời sống, theo kiểu “phản ứng dây chuyền”. Thời gian qua giá xăng, dầu thế giới tăng vượt mọi dự đoán, đến nay vẫn duy trì ở mức rất cao. Nhưng Tổng công ty xăng, dầu bảo đảm không tăng giá bán xăng, dầu, có đủ nguồn cung cấp cho thị trường trong nước. Theo lãnh đạo Tổng công ty xăng, dầu, đã nhập khẩu đủ và đúng kế hoạch; điều động lượng xăng, dầu giữa các khu vực, vùng miền; kiểm tra, kiểm soát hệ thống đại lý, bảo đảm bán hàng liên tục; ký hợp đồng cung ứng trực tiếp với các hộ tiêu thụ lớn như điện, than, xi măng…

Một số sản phẩm khác cũng được các doanh nghiệp tìm mọi cách ổn định giá bán. Trong khi giá nguyên liệu nhập tăng (so với cùng kỳ năm ngoái) gấp từ 2 đến 6 lần, Tổng Công ty Hóa chất và các đơn vị thành viên vẫn duy trì giá bán phân bón hóa học ổn định từ tháng 3 đến nay. Tập đoàn điện lực Việt Nam chưa điều chỉnh tăng giá điện. Cùng với tiết kiệm, giảm tổn thất điện năng, đã mua điện của các nguồn giá thành rất cao dù chịu lỗ lớn. Chỉ với 24,11 tỷ kWh mua của các nguồn đầu tư ngoài ngành, đã phải bù lỗ hơn 6.100 tỷ đồng. Than, xi măng… cũng giữ được giá ổn định trong thời gian qua.

Ngay trong chiều hướng giá tăng thì nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đã giảm giá. Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông và Tổng Công ty Viễn thông Quân đội đã có nhiều đợt giảm cước các dịch vụ viễn thông khác nhau (bình quân giảm từ 13 đến 14%). Còn theo đồng chí Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, trong 6 tháng qua, Tập đoàn chỉ đạo nhập 60.000 tấn ga hóa lỏng để bình ổn thị trường, giảm giá bán phân đạm cho các hộ tiêu thụ trong nước từ 10 đến 15%. Tổng Công ty Khí Việt Nam thuộc Tập đoàn vừa quyết định giảm giá bán 20 USD/tấn ga hóa lỏng đối với các khách hàng mua theo hợp đồng định hạn, áp dụng từ tháng 7. Đây là biện pháp góp phần bình ổn thị trường khí hóa lỏng trong nước-mặt hàng đã có 7 lần biến động giá từ cuối năm ngoái đến nay. Theo tính toán, việc giảm giá này có tác động tích cực đến thị trường. Các nhà phân phối vừa đồng loạt giảm giá từ 3.000 đến 4.000 đồng/bình 12kg. Tổng công ty đã đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh; đầu tư có trọng điểm, bảo đảm hiệu quả đầu tư các dự án khí… mà một trong những sản phẩm chính cung cấp cho thị trường là khí hóa lỏng. Ngoài ra, còn nhập khẩu với khối lượng lớn để ổn định nguồn cung cho thị trường. Cho đến thời điểm hiện nay, sản lượng khí hóa lỏng do Tổng công ty cung cấp (bao gồm cả nguồn trong nước sản xuất và nhập khẩu) đáp ứng hơn 50% nhu cầu tiêu thụ trong nước và phấn đấu đạt 60%-70% trong thời gian tới. Ngoài sản phẩm này, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã cam kết bán phân đạm Phú Mỹ thấp hơn giá thị trường từ 10 đến 15% để bình ổn thị trường.

Từ những kết quả đã đạt được, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo, làm công cụ vật chất để Nhà nước định hướng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Cần điều chỉnh và cơ cấu lại nguồn vốn?

Đã và đang có những ý kiến khác nhau của các chuyên gia, doanh nhân trong và ngoài nước về cách các doanh nghiệp tham gia vào kiềm chế lạm phát. Có người cho rằng việc sản xuất cái gì, khối lượng bao nhiêu, giá cả thế nào… đều phải do thị trường quyết định. Nếu làm trái đi, can thiệp bằng các mệnh lệnh hành chính thì làm méo mó các quy luật kinh tế, các doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu hậu quả xấu và ảnh hưởng chung đến nền kinh tế.

Nhưng trong thực tế, doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế và sản phẩm, dịch vụ công ích, quốc phòng, an ninh. Năm 2007, giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ của các tập đoàn, tổng công ty chiếm 40% GDP cả nước, đóng góp 28,8% tổng thu nội địa (chưa kể dầu thô và thuế xuất, nhập khẩu), góp phần ổn định nguồn thu. Chính vì vậy, chỉ có doanh nghiệp nhà nước có đủ lực lượng, thế mạnh tham gia vào bình ổn giá cả thị trường ngay lập tức. Việc sử dụng các biện pháp có tính mệnh lệnh hành chính trong lúc này để bình ổn giá cả là cần thiết và đúng đắn nhất. Một tập đoàn, tổng công ty chịu thiệt thòi về lợi nhuận riêng thì những doanh nghiệp khác, ngành khác và đời sống của toàn xã hội sẽ có lợi, và xét một cách tổng thể, nền kinh tế sẽ có lợi. Cái lợi vừa trước mắt và cả lâu dài.

Ngay trong 6 tháng cuối năm này, Nhà nước chỉ bù lỗ cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu. Các doanh nghiệp khác phải tự hạch toán, tự trang trải kinh phí, tự tìm cách huy động vốn kinh doanh. Lạm phát đã tác động sâu sắc đến hoạt động doanh nghiệp, giá nguyên, nhiên liệu đầu vào đều tăng, lại thiếu vốn sản xuất trong khi vẫn phải "kiềm giữ giá" để giữ vững vai trò bình ổn thị trường, nên chắc chắn nhiều doanh nghiệp nhà nước sẽ vẫn bị thua lỗ. Đồng chí Phạm Viết Muôn cho biết: Trong 6 tháng cuối năm, có những mặt hàng doanh nghiệp nhà nước muốn tăng giáđể đỡ lỗ. Nhưng Thủ tướng đã chỉ đạo rồi, không được tăng. Làm như vậy có vẻ phi thị trường, có thể làm méo mó thị trường nhưng chúng ta không còn cách nào khác. Phải chấp nhận hy sinh để hạ thấp nhất sự tổn thương đến đời sống nhân dân và giảm chi phí đầu vào của nền kinh tế…

Nhưng cũng có hy vọng lớn là các doanh nghiệp nhà nước có nhiều cách để vượt qua khó khăn, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng lỗ vốn. Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã nêu lên với lãnh đạo của Bộ Công Thương và các Sở, ban ngành ý kiến: Nhân lúc trượt giá, coi đây là cơ hội cơ cấu lại đầu tư, cơ cấu nền kinh tế. Bắt đầu từ việc xem xét lại cơ cấu các dự án đầu tư, có thể sẽ tính toán và cân đối lại toàn bộ hoạt động đầu tư. Có thể phát triển được với số vốn đầu tư ít hơn nhưng vẫn đạt số lượng và chất lượng vẫn cao.

Đó cũng là ý kiến của khá nhiều chuyên gia và doanh nhân khi bàn về lối thoát của doanh nghiệp trong thời gian tới… Cơ cấu vốn đầu tư là một yếu tố được xem xét. Một hướng khác cũng được thực hiện là giảm lượng tiền từ nguồn ngân sách vào thị trường. Với các doanh nghiệp thì lớn nhất là ở các dự án đầu tư. Sau khi rà soát lại các dự án đầu tư, trong năm nay các tập đoàn, tổng công ty nhà nước sẽ cắt giảm, đình hoãn 609 dự án với tổng số vốn là 34.190 tỷ đồng. Trong đó, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy là 6.500 tỷ đồng (49 dự án); Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam: 6.000 tỷ đồng (113 dự án); Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản: 1.300 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam: 1.802 tỷ đồng. TCty Hàng hải: 6.179 tỷ đồng… Đó là những dự án chưa thật sự cần thiết phải triển khai vào lúc này, chưa cho hiệu quả ngay.

Song, vấn đề nổi lên hiện nay là việc đầu tư ra ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, thời gian qua, có một số đơn vị đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bất động sản với số vốn 7.370 tỷ đồng. Xét chung, tổng vốn đầu tư vào 3 lĩnh vực trên không lớn so với vốn chủ sở hữu và tài sản của doanh nghiệp (so với vốn chủ sở hữu chiếm 2,16%, so với tài sản của doanh nghiệp chiếm 0,92%). Thực tế cho thấy việc chỉ đầu tư vào một lĩnh vực là sự cứng nhắc, có chút hơi hướng kiểu kinh doanh thời bao cấp. Nhiều tập đoàn, tổng công ty cần và có thể bằng lợi thế của lĩnh vực kinh doanh chính để phát triển các kinh doanh hỗ trợ. Kinh doanh đa ngành phải dựa vào ưu thế sẵn có, phục vụ cho kinh doanh chính. Tuy nhiên, việc đầu tư đó phải hiệu quả và vốn đầu tư chủ yếu phải dùng cho lĩnh vực kinh doanh chính. Thủ tướng chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước chỉ được tham gia vào một ngân hàng. Vì vậy, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đang cân nhắc (dù đã được phê duyệt) tham gia thành lập Ngân hàng Hồng Việt với 20% vốn hay thoái vốn ở Ngân hàng dầu khí Toàn cầu. Tập đoàn Dệt-May Việt Nam xin thành lậpNgân hàngcổ phần giữ vốn 12%, nhưng đã ngừng lại…

Đồng chí Phạm Viết Muôn cho biết: Thời gian tới sẽ sắp xếp lại để các doanh nghiệp tập trung vào ngành sản xuất, kinh doanh chính và phụ trợ, tránh trùng lặp ngành, nghề. Dự kiến trong quý 4, Chính phủ cũng sẽ sơ kết, đánh giá về tập đoàn kinh tế để sớm ban hành Nghị định về tổ chức và hoạt động của mô hình này. Về lâu dài, Chính phủ sẽ ban hành Luật Sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào kinh doanh.

VIỆT ÂN