 |
|
Nông dân huyện Cai Lậy (Tiền Giang) thu hoạch lúa hè thu. Ảnh: Đình Huệ (TTXVN) |
Tôi đã từng chứng kiến ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bức xúc phát biểu trong một cuộc hội thảo: “
Cần gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng “bờ xôi ruộng mật” biến thành sân gôn, khu công nghiệp, khu giải trí... Nếu không kịp thời điều chỉnh sẽ ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia”.
Gặp lại tôi lần này, gương mặt vị tiến sĩ nông học hiển hiện nét vui của anh nông dân được mùa...
Mùa vàng bội thu: 38,5 triệu tấn thóc!
- Ông có thể chia sẻ niềm vui nào với chúng tôi?
- Đúng là tôi đang vui khi được biết, trong 9 tháng đầu năm giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tăng 5,4%, trong đó nông nghiệp tăng 4,8%, thủy sản tăng 7,91%. Riêng trong lĩnh vực trồng trọt, nếu những tháng cuối năm thời tiết thuận lợi, kiểm soát được sâu bệnh, khả năng sẽ thắng lớn. Dự kiến năng suất lúa cả năm ước đạt 38,5 triệu tấn, bình quân là 52,3 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha so với năm trước.
- Và nó càng có ý nghĩa nếu xét trong bối cảnh 9 tháng qua?
- Đúng thế. Nếu nhìn vào những diễn biến kinh tế trong nước và thế giới, người lạc quan nhất cũng không thể nghĩ rằng sản xuất lương thực lại đạt con số ngoạn mục như vậy. Năm nay mở đầu bằng đợt rét đậm, rét hại lịch sử. Hầu hết các địa phương phía Bắc phải gieo lại mạ, cấy lại lúa. Tiếp đến là lạm phát, giá cả tăng cao, bão lũ, dịch bệnh hoành hành, diện tích trồng lúa ngày càng bị thu hẹp... Thế mà sản lượng lúa hàng hoá cả nước tăng tới 2,6 triệu tấn so với năm 2007, xuất khẩu gạo đạt 4,5 triệu tấn. Trong khó khăn, kết quả đạt được càng có ý nghĩa. Đó là niềm tự hào của ngành nông nghiệp nói chung, mà trước hết là công sức của bà con nông dân, các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, và dĩ nhiên là có sự quản lý, chỉ đạo của ngành chủ quản.
- Nhưng vẫn thấy tiếc khi thiên tai, dịch bệnh đã làm giảm sản lượng lúa tại nhiều địa phương?
- Thực tế, những yếu tố bất thuận của thời tiết, dịch bệnh có năm từng làm giảm sản lượng cả triệu tấn thóc. Năm nay, về cơ bản hai vựa lúa lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long không bị thiệt hại nhiều. Tuy nhiên, con số thiệt hại do thiên tai, lũ lụt cũng phải lên tới hàng trăm nghìn tấn thóc...
Chỉ đạo kịp thời, điều hành thống nhất!
- Ông vừa nói, sự thành công trong sản xuất lương thực là niềm tự hào chung của cả ngành nông nghiệp. Vậy dấu ấn của yếu tố “vĩ mô” là gì?
- Cần phải nói rằng thành công phải có sự hợp thành của cả một hệ thống chính trị, sự phối hợp đồng bộ từ cấp quản lý vĩ mô đến các địa phương. Sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong xác định chủ trương biện pháp kỹ thuật, tổ chức thực hiện, xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất, thu mua sản phẩm cho nông dân… đã góp phần vào thành tích chung.
Trong đợt rét đậm, rét hại đầu năm ở miền Bắc, các cơ quan quản lý đã chỉ đạo ráo riết, quyết liệt việc gieo mạ bổ sung, gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất. Căn cứ vào đặc điểm thổ nhưỡng từng vùng có thể tiến hành gieo thẳng cho kịp thời vụ, hướng dẫn sử dụng bón phân, phòng trừ sâu bệnh… Còn ở miền Nam, khi dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn xoắn lá hoành hành, chúng tôi đã chỉ đạo các địa phương xuống giống tập trung, kịp thời né rầy, hạn chế được tác hại sâu bệnh, mở rộng diện tích vụ thu đông, coi đây là vụ sản xuất chính. Nhờ đó đã tăng thêm hiệu quả 200.000ha lúa. Chúng tôi cũng khuyến cáo bà con hạn chế sử dụng giống năng suất thấp, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu, đưa những giống có khả năng kháng rầy, năng suất cao vào sản xuất...
- Thế còn chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với nông dân?
- Chúng tôi đã đề xuất với Chính phủ ra cơ chế, chính sách kịp thời như hỗ trợ về giống cho các địa phương chống rét, hỗ trợ thuốc trừ sâu, vật tư nông nghiệp, tiền công nhổ lúa bị bệnh vàng lùn, tìm cách tháo gỡ đầu ra cho nông sản, bảo đảm lợi ích nông dân. Đặc biệt là kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo doanh nghiệp thu mua nâng mức giá lúa sàn, bảo đảm cho nông dân có lãi 40%.
- Cũng có ý kiến cho rằng, rất đáng tiếc khi chúng ta ngừng xuất khẩu gạo vào thời điểm giá gạo thế giới đang cao. Dường như công tác dự báo tình hình lương thực chưa thực sự chuẩn xác. Ông nghĩ sao về việc này?
- Đúng là có ý kiến cho rằng tại sao khi giá gạo thế giới đang cao thì ta lại ngừng xuất khẩu. Về góc độ cá nhân, tôi nghĩ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không phải cơ quan có vai trò chính trong chỉ đạo tiêu thụ nông sản, cụ thể là xuất khẩu gạo. Về khía cạnh chuyên môn, thời điểm vừa mới rét đậm, rét hại xong, nhiều nơi lúa chết phải cấy lại, thì ai dám chắc sẽ được mùa. Ở tầm quản lý vĩ mô, chúng ta không thể mạo hiểm xuất khẩu gạo khi chưa biết khả năng thu hoạch lương thực trong nước.
Lĩnh vực nào cũng cần có tính dự báo, nhưng không thể chính xác tuyệt đối. Có chăng, chỉ một chút vấn vương là giá như lúc ấy chúng ta mạnh dạn hơn... Tuy nhiên, đến thời điểm này, cả nước đã xuất khẩu được 3,9 triệu tấn gạo, còn 600.000 tấn nữa không quá khó để hoàn thành chỉ tiêu 4,5 triệu tấn trong năm nay. Đó là một thành tựu lớn.
Giải pháp đồng bộ bảo đảm an ninh lương thực
- Việc từng bước nâng cao tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp, phát triển các khu đô thị mới, chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng “bờ xôi ruộng mật” bị thu hẹp. Ông có cho đó là một mâu thuẫn?
- Một thực tế là có văn bản pháp quy hiện nay cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Luật Ngân sách phân cấp rất mạnh cho địa phương. Dù phân cấp là đúng, nhưng do áp lực tự cân đối ngân sách nên nhiều nơi chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài, như tìm mọi cách mời gọi các nhà đầu tư với những chính sách hấp dẫn. Vì thế, đã không quan tâm quỹ đất còn nhiều hay ít, triển khai ồ ạt các dự án, kể cả “dự án treo”... Tôi nghĩ, sẽ không có sự mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ nếu ta biết giải quyết vấn đề một cách tổng thể, đồng bộ ở cả tầm vĩ mô cũng như trên từng địa phương.
- Vậy, ngành nông nghiệp đã có kế sách gì để giữ đất lúa cho nông dân?
- Để hạn chế tình trạng này, chúng tôi đang xây dựng Nghị định về quản lý đất lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Trước hết, cần sửa đổi Luật Ngân sách để không tạo áp lực tự cân đối ngân sách đối với địa phương. Cần có cơ chế cân đối ngân sách từ Trung ương, tăng cường đầu tư để người nông dân yên tâm với thu nhập từ nghề trồng trọt. Đồng thời, phải có quy định chặt chẽ về quản lý, quy hoạch đất lúa, coi vấn đề an ninh lương thực là quan trọng hàng đầu. Có lẽ, bây giờ chúng ta không chỉ rung chuông cảnh báo nữa, mà cần phải có chính sách thật cương quyết, cụ thể để giữ lấy “bờ xôi ruộng mật”. Nếu không đến năm 2020, dân số nước ta vào khoảng 100 triệu người và sẽ tiếp tục tăng lên, thì rất khó giải quyết bài toán an ninh lương thực.
- Ngành nông nghiệp có chiến lược gì trong vấn đề sản xuất lương thực?
- Chúng tôi đang xây dựng định hướng phát triển ngành trồng trọt đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, xác định rõ những bước đi, giải pháp, đối tượng cây trồng, phát huy ưu thế của nó ở Việt Nam, phù hợp với từng vùng sinh thái. Mục tiêu là để sản phẩm trồng trọt không những phát triển bền vững mà còn nâng cao giá trị tuyệt đối, giúp người nông dân có thu nhập thoả đáng theo hướng sản xuất hàng hoá. Muốn vậy, phải giải quyết nhiều vấn đề như tích tụ ruộng đất, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, cơ chế chính sách hỗ trợ, việc gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm… Từ nay đến cuối năm chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thành văn bản này để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Xin cảm ơn ông!
Lê Thiết Hùng
(Thực hiện)