Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 20-4-2007 đã đăng bài "Phòng, trị rầy nâu ở Đồng bằng sông Cửu Long: Chuyện giữa "3 nhà". Bài báo đã đề xuất các giải pháp để ngăn ngừa tác hại của rầy nâu, và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, trong đó nhấn mạnh "giải pháp cơ bản và lâu dài để đối phó với dịch hại rầy nâu là xác định và phổ biến các giống lúa kháng rầy nâu".

Sau khi báo phát hành, nhiều bà con nông dân đã gửi thư, gọi điện đến tòa soạn hỏi về các giống lúa đó và băn khoăn: Liệu giống lúa kháng rầy có phải là giải pháp hữu hiệu trị dịch bệnh đó hay không? Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Thị Lang, Trưởng bộ môn Di truyền, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long xung quanh vấn đề này.

Làm giống dễ hơn phổ biến giống

- Thưa chị, dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá (VL, LXL) đã và đang hoành hành gây thiệt hại không nhỏ cho bà con nông dân. Vậy phải chăng chúng ta thiếu những giống lúa tốt để hạn chế tác hại do rầy nâu gây ra?

- Trị rầy nâu là việc làm rất khó khăn, ngay cả ở các nước khác trên thế giới cũng vậy. Bởi các quần thể rầy luôn thay đổi, thích nghi với điều kiện môi trường tự nhiên. Trước đây, chúng ta chỉ thấy rầy nâu hại lúa non, còn vụ Đông xuân năm 2006-2007 thì rầy đã phá hại cả khi lúa đã ngậm sữa, trổ bông. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chúng ta không có cách và thiếu giống lúa để hạn chế tác hại của chúng.

Một ruộng lúa giống (ảnh internet)

Thực tế, mỗi mùa vụ chúng tôi nghiên cứu hàng trăm giống lúa mới, trung bình mỗi năm sản xuất được khoảng 10-20 giống lúa có khả năng chống chịu rầy nâu. Hiện nay, chúng ta đã có các giống lúa chống rầy như: AS 996, OM 4498, OM 2395, OMCS 2000, OM 5930, OM 576, MTL 384, VN 95-20, HD1, IR 50404, OM 6561, OM 6297, OM 3649, OM 5981, OM 4059, OM 4938, OM 5637, OM 5199, OM 6073, OM 4926, OM 3536, ST5.

- Vậy mà rầy nâu vẫn gây hại cho lúa, nguyên nhân từ đâu?

- Cũng cần khẳng định giống lúa chống rầy không phải là “đũa thần” có thể trị rầy nâu mãi. Rầy nâu rất khó trị, mỗi giống lúa kháng rầy cũng chỉ có khả năng chịu rầy được một thời gian thôi (2-5 năm). Trong khi đó, nông dân chúng ta trồng lúa mỗi người một kiểu mà người ta vẫn gọi là “da báo”. Nghĩa là trên cùng một cánh đồng, lúa của người này đã được gặt, còn lúa của người khác vẫn còn xanh, rầy nâu lập tức di chuyển và tiếp tục gây hại cho lúa những vùng đó.

Mầm bệnh luôn tồn tại trong môi trường tự nhiên. Làm giống mới đã khó, nhưng để tới tay người nông dân thì lại cả một vấn đề phức tạp, không đơn giản. Chúng tôi làm giống xong thì thường giao cho các địa phương nhân giống cung cấp cho bà con nông dân. Địa phương nào cán bộ nhiệt tình thì việc nhân giống nhanh, đầy đủ, còn không thì ngược lại. Với diện tích đất của Viện hiện nay, không thể có đủ khả năng cung cấp giống đại trà trực tiếp cho nông dân.

- Vì sao giống lúa mới không tới được với bà con?

- Cũng có khi người nông dân bị thiếu thông tin về giống lúa mới nên không thích trồng. Sự lựa chọn giống lúa của nông dân cũng tương tự như người ta lựa chọn màu sắc quần áo vậy. Người thì thích loại giống lúa cây cao, người thì thích trồng loại lúa có hạt gạo dài, người thì lại chú trọng đến chất lượng gạo, thời gian canh tác… Có những giống chống chịu được rầy thì nông dân lại không thích chỉ với lý do đơn giản thời gian canh tác dài (100 ngày), mà thích giống khác chỉ ngắn hơn 10 ngày… Sắp tới, chúng tôi sẽ nghiên cứu kỹ hơn về rầy nâu, để đưa ra các loại giống vừa kháng được rầy cao vừa đảm bảo chất lượng gạo thơm ngon.

Muốn trị rầy phải kết hợp nhiều biện pháp

- Giống lúa OM 4498 sắp được công nhận là giống quốc gia, ưu điểm của giống lúa này là gì?

- Đây là giống đầu tiên chúng tôi dùng phương pháp mới, có khả năng chọn giống nhanh, chính xác, tỉ lệ thành công cao hơn so với phương pháp truyền thống làm bằng tay. Mục tiêu chính khi chúng tôi nghiên cứu giống lúa này để phục vụ canh tác ở những vùng đất nhiễm mặn ven biển. Kết quả khảo nghiệm thực tế từ năm 2003 đến nay cho thấy, giống lúa này cho năng suất cao (5-7 tấn/ha), thời gian canh tác ngắn (90 ngày) đồng thời cho chất lượng gạo ngon, có khả năng chống chịu các điều kiện bất lợi, kể cả vùng bị nhiễm phèn, mặn; đặc biệt là kháng rầy và bệnh VL, LXL. Vụ Đông xuân năm 2006-2007 diện tích giống lúa ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đạt khoảng 20.000-30.000ha.

- Vậy sau thành công của giống OM 4498, vẫn cần tiếp tục có giống lúa kháng rầy mới.

- Chúng tôi hiện đã được nhà nước giao xây dựng giống lúa phục vụ cho vùng khô hạn, đặc biệt là với các tỉnh miền Trung, nơi thường bị khô hạn, thiếu nước trong giai đoạn từ nay đến năm 2010. Cuối năm 2007, chúng tôi sẽ cho ra đời giống lúa OM 4900, OM 6162 năng suất cao, chống chịu được rầy tuy nhiên nhược điểm của giống lúa này thời gian canh tác dài, 100 ngày.

- Còn với bệnh VL, LXL thì sao, thưa chị?

- Rầy nâu chích vào cây lúa đem theo mầm bệnh, muốn trị được bệnh VL, LXL trước hết phải trị dứt điểm rầy nâu.

- Chúng ta cần có những biện pháp nào để không phải lâm vào cảnh lao đao trước dịch rầy nâu?

- Giống lúa kháng rầy chỉ góp phần hạn chế rầy gây hại mà thôi chứ không thể ngăn ngừa hoàn toàn được rầy. Muốn trị rầy nâu, bệnh VL, LXL theo tôi phải có nhiều biện pháp kết hợp thì mới phát huy được hiệu quả. Trước hết, cần giống lúa tốt có khả năng kháng rầy, tiếp đó là phương thức canh tác phải phù hợp: sạ hàng, sạ thưa, xuống giống đồng loạt theo lịch thời vụ để né rầy… Vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay mỗi năm nên sản xuất 2 vụ lúa cộng với một vụ màu, không nên trồng một loại giống lúa trên cùng một diện tích đất trong thời gian dài để ngăn ngừa giống bị thoái hóa. Sử dụng thuốc diệt trừ rầy nếu không thực hiện đúng kỹ thuật, đúng lúc sẽ làm hạn chế hiệu quả trừ rầy, làm rầy dễ nhờn thuốc. Tới vụ sau, việc trị rầy sẽ càng khó khăn, phức tạp hơn.

- Thưa chị, giống lúa cũng cần có những đặc tính khác nữa?

- Vụ Đông xuân vừa qua được mùa là nhờ chúng ta áp dụng nhiều biện pháp để phòng trừ rầy nâu, bệnh VL, LXL. Riêng giống lúa OM 4498 thành công vậy nhưng thời gian tới chúng tôi sẽ phải tiếp tục nghiên cứu để tăng khả năng kháng rầy, chất lượng gạo, hình dáng cây… đáp ứng nhu cầu sản xuất của bà con nông dân, góp phần nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu. Nghiên cứu các giống lúa không chỉ chống chịu rầy, dịch bệnh, phẩm chất gạo tốt mà còn có khả năng chịu đựng trong điều kiện khô hạn khắc nghiệt. Chúng tôi phải chuẩn bị trước những giống có đặc tính như thế mới có thể giúp nông dân cũng như ngành lương thực phát triển bền vững...

- Xin cám ơn chị!

NGUYỄN KIỂM (thực hiện)