Cứ đến ngày 19-12 hằng năm, có một kỷ niệm cứ hiện , sẽ còn theo suốt cuộc đời tôi. Đó là cuộc gặp mặt giữa cố Đại tướng Đoàn Khuê (khi ấy ông là Uỷ viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) với cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn Thủ Đô, diễn ra tại nơi Trung đoàn đóng quân. Hồi đó (1996), Trung đoàn Thủ đô đang chuẩn bị kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống của mình, đồng thời cũng là dịp cả nước sẽ kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946- 19/12/1996).
Nhìn những gương mặt trẻ trung, rạng ngời, quân phục tề chỉnh, phần đông họ đều được sinh ra sau năm 1975, khi Tổ quốc đã thu về một mối. Đây là thế hệ được sinh ra và lớn lên trong hoà bình trọn vẹn. Họ không trải qua chiến tranh nhưng luôn mong mỏi sống xứng đáng với đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
Cuộc gặp mặt diễn ra không giống bất kỳ cuộc gặp nào mà tôi đã từng chứng kiến. Cả tướng và lính cùng hát vang bài ca truyền thống “Vì nhân dân quên mình”. Cuộc gặp bắt đầu thật hùng tráng. Sau đó, cán bộ, chiến sỹ đơn vị đã hát tặng riêng đồng chí Bộ trưởng bài hát “Ca ngợi mẹ Việt Nam anh hùng”, vì họ biết thân mẫu của Đại tướng là “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, gia đình ông đã có tới 6 liệt sỹ hy sinh trong các cuộc kháng chiến. Hiện hiện tại đây hình ảnh chan hòa giữa vị tướng và binh sĩ thời nhà nhà Trần năm xưa “Hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”, tướng yêu quân, quân hiểu tướng, cùng đau cái đau của đồng đội, cùng vui cái vui của đồng chí. Từ lúc đó, cuộc tiếp xúc giữa một vị Đại tướng với các chiến sỹ đã vượt nhanh ra khỏi ranh giới thông thường, đây không phải là cuộc tiếp xúc của vị lãnh đạo cấp cao với bộ đội mà là cuộc trò chuyện, tâm sự giữa hai thế hệ, thật ấm áp, gần gũi, thân tình. Chính ông - Đại tướng Đoàn Khuê cũng muốn cuộc trò chuyện hôm nay với lớp chiến sỹ trẻ sẽ diễn ra như vậy.
Ông nói: “Về lại Trung đoàn Thủ Đô trong những ngày này, khi cả nước đang khẩn trương hoàn thành các nhiệm vụ còn lại của kế hoạch năm, hăng hái thi đua lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến chống Thực dân Pháp, 52 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam - Ngày Hội Quốc phòng toàn dân, riêng các đồng chí 50 năm Ngày truyền thống của Trung đoàn đang đến gần (6-1-1946 - 6-1-1996). Tôi muốn nói hết những điều cần nói với các đồng chí - những người sẽ kế tiếp truyền thống, tiếp tục sự nghiệp của chúng tôi - những người đi trước”.
Linh tính như mách bảo, hình như đây là cuộc gặp sâu nặng nghĩa tình của ông với bộ đội. Và thế là những kỷ niệm về ngày toàn quốc kháng chiến sôi động, những vất vả gian nan mà ông đã từng nếm trải cứ lần lượt hiện về. Ông xúc động đọc lại những dòng thư của Bác Hồ gửi cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn Thủ Đô nhân dịp tết Đinh Hợi (1947), lúc bấy giờ họ đang cùng dân quân, tự vệ thành Hà Nội chiến đấu dũng cảm, giành giật từng nóc nhà, góc phố với địch, chặn bước đánh nhanh, thắng nhanh của Thực dân Pháp (từ 19-12-1946 đến 17-2-1947). Đọc mỗi dòng, giọng ông như nghẹn lại trước tình cảm của Bác Hồ giành cho các chiến sỹ Trung đoàn Thủ Đô nói riêng và bộ đội ta trên khắp các mặt trận cả nước hồi ấy.
Thế hệ chúng tôi - ông nói tiếp - đã nếm trải cảnh mất nước, tù đầy, đói rét của kiếp người nô lệ, chúng tôi không bao giờ và không thể nào quên được sự tủi nhục thời đó. Ông đọc:
... “Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ
Anh chạy vào đất đỏ làm phu
Tấm thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”...
Đọc đến đây cổ ông như nghẹn lại, đứng lặng hồi lâu, hai mắt cay cay. Ký ức đau thương của bản thân, quê hương, làng xóm cứ thế dội về làm vị tướng vốn can trường xông pha trận mạc là vậy mà vẫn không ngăn nổi những giọt lệ đầy tình người.
Rồi ông tâm sự tiếp: Và có lẽ, không một ai trong chúng ta có thể làm ngơ khi nhìn thấy cảnh:
... “Con đói lả ôm lưng mẹ khóc
Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi
Kiếp người cơm vãi cơm rơi
Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi”...
…tất cả mọi người có mặt hôm đó đều lặng đi, đồng cảm, bùi ngùi, xót thương trước nỗi đau của dân tộc. Cố Đại tướng đã nhiều lần ghìm nén xúc động mới kết thúc được đoạn thơ trên.
Ông tâm sự tiếp: “Thế hệ chúng tôi ra đi làm cách mạng, dù biết chắc sẽ bị tù đày, cực khổ, máu chảy đầu rơi. Nhưng chỉ vì không chịu nổi nhục mất nước diễn ra trước mắt mình hàng ngày, cảnh nhân dân mình bị khổ cực, đói rét, bị đánh đập, chửi bới, khinh bỉ, trẻ em không được học hành, người sống không khóc nổi, còn người chết không có người chôn... mà quyết ra đi... Bởi lòng yêu nước, thương dân, mà sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng một mất một còn với kẻ thù xâm lược. Từ yêu nước, thương nòi chúng tôi trở thành cộng sản”.
Tất cả những gì mà cố Đại tướng, Bộ trưởng muốn truyền thụ cho những người lính trẻ của mình hôm ấy có thể cô đúc trong chân lý: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”- Chân lý đó đã được Bác Hồ kính yêu chỉ ra trong bản hiệu triệu toàn quốc kháng chiến (19-12) của hơn 50 năm về trước.
Ông muốn nói với thế hệ trẻ hôm nay rằng: Nếu chúng ta không kiên quyết đứng lên kháng chiến theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ thì chắc chắn ách nô lệ của thực dân, đế quốc lại quàng lên cổ dân tộc ta một lần nữa.
Với các bạn trẻ Trung đoàn Thủ đô, cuộc nói chuyện của cố Đại tướng hôm ấy dường như là một sự phát hiện. Nghe ông nói họ mới hiểu thế nào là “Tự tôn, tự lập” của dân tộc, là “Tinh thần bất diệt”, là sự “Gan góc”... và tại sao lại phải gan góc tiếp thụ cái tinh thần bất diệt ấy để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau...
Chắc hẳn cố Đại tướng đã phải suy nghĩ nhiều lắm, bằng cả cuộc đời theo Đảng, chiến đấu và công tác của mình, từ khi còn là học sinh ông đã tham gia hoạt động cách mạng, 18 tuổi bị Thực dân Pháp bắt, tra tấn dã man, bỏ tù rồi đày lên Nhà đày Buôn Ma Thuột... để hôm ấy ông đã nói bằng tất cả trái tim mình với thế hệ trẻ.
Ông nói tiếp: Bác Hồ giao cho quân đội trọng trách cao quý: “Là đại biểu cho cái tinh thần tự tôn, tự lập dân tộc”. Tinh thần đó của dân tộc ta mấy ngàn năm để lại, không phải ngẫu nhiên mà có, nó phải kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại mới có. Riêng “Gan góc”, cố Đại tướng đã phân tích, giảng giải ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh để hiểu cho thấu lý đạt tình. Ông khẳng định: Truyền thống dân tộc ta là truyền thống gan góc, cho nên chỉ thực sự có gan góc mới tiếp thụ được truyền thống ấy. Còn tinh thần bất diệt của dân tộc Việt Nam nó không tự đến với chúng ta. Đồng thời, không thể tiếp thụ tinh thần ấy với mọi điều kiện. Theo như chữ mà Bác đã dùng thì phải “gan góc” mới tiếp thụ được. Ngừng một lát, cố Đại tướng nêu vấn đề: Tại sao Bác Hồ lại giao cho quân đội chúng ta trọng trách truyền lại tinh thần bất diệt của dân tộc cho nòi giống Việt Nam muôn đời sau?
Phải chăng đây là cội nguồn, là vấn đề then chốt để dân tộc Việt Nam trường tồn?
Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng: Kẻ thù đã nhiều lần muốn dìm chúng ta trong nô lệ và lệ thuộc, thậm chí chúng âm mưu đồng hoá dân tộc ta, quyết tìm mọi cách để dân tộc Việt Nam phải tiêu vong. Có kẻ lại muốn đưa chúng ta trở về thời kỳ đồ đá, kẻ thù muốn xóa hẳn nòi giống Việt Nam.
Nhưng, không! Chúng ta, hết thế hệ này đến thế hệ khác, không bao giờ chịu khuất phục. Chúng ta đã kháng Tống, bình Nguyên, bại Minh, bạt Thanh, đánh Pháp, đuổi Nhật và thắng Mỹ. Kẻ nào xâm lược nước ta thì chúng ta phải đánh cho chúng biết nước Nam anh hùng này có chủ, “Thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”; “Xin chém đầu thần trước rồi hàng giặc sau”; “Còn một têm xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải chiến đấu quét sạch nó đi”; đã là đất đai, hải phận của Tổ quốc thì dù một ngọn cỏ, một nhành cây, một hòn đá, một bãi san hô chìm, hay một vạt san hô nổi cũng không cho phép kẻ nào xâm phạm... Đó là những lời nguyền thế hệ.
Bác giao cho cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn Thủ Đô trọng trách “Truyền lại tinh thần bất diệt của dân tộc cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau” cũng chính là giao cho toàn thể quân đội ta. Vì Bác đặt niềm tin vào quân đội. Vì chúng ta là đại biểu của tinh thần tự tôn, tự lập, tinh thần quật cường của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại. Vì chúng ta đã gan góc tiếp thụ cái tinh thần bất diệt ấy của dân tộc bằng những hành động anh hùng cao cả, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh và đã làm cho tinh thần ấy sáng chói thêm, sáng chói mãi mãi. Càng ngẫm nghĩ lời Bác chúng ta càng thấy niềm tin của Bác vào quân đội ta thật lớn, trọng trách Bác giao cho quân đội ta và mỗi chúng ta thật nặng nề.
Buổi nói chuyện hôm đó cố Đại tướng nhắc đi nhắc lại nhiều lần “tinh thần tự tôn, tự lập”; “tinh thần bất diệt của dân tộc”; muốn tiếp thụ tinh thần ấy chỉ có “gan góc” và phải thật sự “gan góc”; chúng ta phải có trách nhiệm truyền thụ lại tinh thần ấy cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau...Nhìn lớp chiến sỹ trẻ chăm chú lắng nghe như nuốt lấy từng lời. Tôi thầm nghĩ và mong sao có nhiều buổi gặp gỡ như thế này thì quý biết bao.
Trước khi chia tay cố Đại tướng Bộ trưởng nói: Một buổi nói chuyện hôm nay chưa đủ để chúng ta hiểu hết ý nghĩa sâu xa của trọng trách này mà phải trải qua thực tiễn cuộc sống, chiến đấu mới thấy hết được. Rồi đây, theo thời gian lớp người trải qua chiến tranh sẽ ngày càng ít dần, việc truyền thụ lại kinh nghiệm và truyền thống chiến đấu là trách nhiệm của thế hệ trước với thế hệ sau. Ông đã không quên nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn Thủ Đô nên thường xuyên tự nhắc nhở mình và nhắc nhở nhau mãi mãi xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với lòng tin, yêu của Đảng và nhân dân.
Giọng Quảng Trị trầm ấm của ông mọi ngày tôi vẫn thường nghe có vẻ như trầm hơn, vang hơn, ông nhắc lại một cách truyền cảm đoạn thư của Hồ Chủ tịch gửi cán bộ chiến sỹ Trung đoàn năm ấy mà ông đã nhập tâm: “Các em là đội quyết tử, các em quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, các em là đại biểu cho cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta... Nay các em gan góc tiếp thu cái tinh thần bất diệt đó để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau” - Cố Đại tướng, Bộ trưởng Đoàn Khuê đã kết thúc buổi nói chuyện đầy tâm huyết với thế hệ trẻ của Trung đoàn Thủ đô như vậy.
Mọi người như còn chìm trong mơ, chờ nghe điều gì đó từ nơi ông... Bất chợt, người chỉ huy đơn vị chạy lên ôm lấy vị tướng già. Thế là cán bộ, chiến sỹ đơn vị đã quây quần bên ông như cha con, ông cháu lâu ngày gặp lại. Hình ảnh ấy cứ lặp đi lặp lại trong những lần theo ông đi đơn vị. Tôi càng hiểu tình cảm của chiến sỹ đối với ông - vị lãnh đạo cao nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Các bậc lão thành giờ đã đi xa, nhưng những tư tưởng ấy, hình ảnh ấy sẽ vẫn còn mãi trong chúng tôi - những người đang và sẽ bước tiếp trên con đường mà các bậc cha anh đã chọn. Chúng tôi vẫn nhận thức được rằng, trên trận tuyến kinh tế hiện nay, khi mà con thuyền Việt Nam đã bơi ra Đại dương mênh mông, tinh thần: “tự tôn, tự lập” của dân tộc, là “tinh thần bất diệt”, là sự “gan góc”... của ngày hôm ấy lại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Bài viết này như một nén nhang thơm tưởng nhớ tới các bậc tiền nhân trong đó có ông - Cố Đại tướng, Bộ trưởng Đoàn Khuê mà tôi với cương vị phóng viên Thông tấn Quân sự đã có may mắn được dự buổi gặp gỡ hôm ấy và tháp tùng những chuyến công tác, làm việc cuối cùng trước lúc ông về cõi vĩnh hằng.
|
Ứng Quốc Bình -Chuyên viên Văn phòng Chính phủ
(Nguyên Phóng viên Thông tấn Quân sự) |