 |
|
Cô Chính thời thanh xuân... |
Một ngày đầu xuân, tôi tìm đến căn nhà nhỏ đơn sơ, nép mình trên đường Nguyễn Thái Học, ngay cạnh chợ Hàn để tìm gặp cô Trần Thị Chính - nữ du kích đã dũng cảm bắt sống lính Mỹ trên chiến trường Quảng Đà năm xưa. Người phụ nữ từng là một thiếu nữ xinh đẹp, được mệnh danh là “con sóc nhỏ” xông pha khắp các chiến trường, ở đâu chị cũng khiến quân thù khiếp vía, giờ chỉ còn lại một bên chân, một con mắt và hàng trăm vết thương khác chằng chịt trên thân thể...
Thấy khách đến thăm cô Chính vui lắm. Cô mang bộ ấm chén cất kỹ dưới ngăn tủ ra để pha nước mời khách. Vừa pha trà, cô vừa bảo: “Tôi mồ côi cả cha và mẹ, nên học được cách sống tự lập từ nhỏ. Sau này, khi bị thương, tôi cũng học cách tự chăm sóc cho mình”. Nghe cô nói và nhìn hình ảnh người phụ nữ mang đầy thương tật, lụi cụi làm, tôi bỗng thấy nghèn nghẹn ở cổ. Chỉ lên hai chiếc di ảnh trên bàn thờ, cô Chính bảo: “Khi tôi vừa tròn 6 tuổi, cũng là lúc Mỹ-Diệm thực hiện Luật 10-59, đưa máy chém đi khắp nơi. Bố tôi bị bắt và hành hình ngay vào những ngày cuối cùng của năm 1959. Chỉ sau đó ít tháng, mẹ tôi cũng bị đạn bom giặc giết chết trong một trận càn”.
Tuổi thơ của cô Chính là chuỗi ngày khổ cực và lòng căm thù giặc; đếm từng ngày mong đủ lớn để được cầm súng trả thù cho những người thân trong gia đình. 16 tuổi cô đã trở thành một giao liên mưu trí, dũng cảm trên đất Sài Gòn hoa lệ. Năm 1962, trong một lần vận chuyển tài liệu thì bị phát hiện, bằng sự mưu trí cô đã thoát khỏi vòng vây địch. Sau lần ấy, để đảm bảo an toàn, tổ chức phân công cô về hoạt động tại quê nhà ở thôn Đông Hòa, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn. Để che mắt địch, cô Chính mở một tiệm cắt may. Rất nhiều sĩ quan Mỹ đã tìm đến cửa hàng của cô để may đồ, đồng thời vô tình cung cấp những thông tin quan trọng cho phía quân ta.
Đầu năm 1964, cô được tổ chức phân công chăm sóc 8 cán bộ, du kích bị thương, nằm kẹt lại trong một vườn mía ngay sát đồn địch. Chỉ vài hôm sau, địch nhận được tin báo, chúng bất ngờ cho 22 xe tăng lao tới như muốn nghiền nát cả vườn mía. Không chút chần chừ, Chính từ vườn mía lao ra nằm chặn ngang đường tiến của xe tăng địch. Từ trên xe, bọn địch nhảy xuống dùng giày đinh đạp tới tấp lên người nữ du kích, kèm theo những lời tra khảo: “Cộng sản biểu mày ra chặn xe hử? Khai nhanh không tao bắn bỏ!”. Trong đớn đau, cô vẫn bình tĩnh một mực trả lời: “Tui không biết cộng sản là ai. Ba má tui chết cả rồi, tui ngăn lại là vì nếu xe tăng các ông chà vườn mía thì mấy đứa em tui chết đói mất”. Cô vừa khóc vừa van nài tên chỉ huy: “Tôi như em gái ông, xin các ông thương, cho xe dừng lại”. Tiếng khóc và hành động của cô đã lay động chút tình người còn lại trong tên chỉ huy. Hắn ra lệnh cho đoàn xe rẽ ngoặt sang hướng khác. 8 thương binh được an toàn cho đến tận khi được chuyển về tuyến sau.
Năm 1965, với chiến lược “chiến tranh cục bộ”, Mỹ ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng, chúng xây dựng căn cứ trên núi Bồ Bồ, cắm chốt, dồn dân lập ấp ở các vùng phụ cận để lùng sục, bắt bớ, bắn giết đồng bào ta. Thời kỳ này tình thế trên chiến trường khá căng thẳng, du kích hoạt động trong lòng địch thiếu thốn về vũ khí. Điều này khiến Chính trằn trọc suy nghĩ bao đêm.
… Trong trận đánh bốt Điện Hòa vào năm 1966, 3 chiến sĩ của ta bị thương nặng, bị mắc lại trong vùng kiểm soát của địch. Sau trận đánh, Chính tình nguyện cải trang thành người mót củi, trở lại trận địa để tìm dấu tích 3 thương binh. Và ngay trong đêm ấy, cô đã tìm được và đưa cả 3 người về tuyến sau an toàn.
Với những chiến công của mình, đặc biệt là những thành tích về “giải cứu” thương binh, vừa tròn 18 tuổi, nữ du kích trẻ Trần Thị Chính đã vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Vào cuối năm 1967, sự kiện “có một nữ du kích tay không bắt sống lính Mỹ” đã làm nức lòng quân-dân Quảng Đà. Hồi ấy, để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong khi một số đồng chí ra Đà Nẵng tập sự, Chính được giao nhiệm vụ ở lại nắm tình hình địch. Vào một buổi sáng mùa đông, cô nghe ông Mai Phước Liễn (một cơ sở cách mạng của ta cách nhà Chính chừng 50 mét) nói vọng sang: “Cô Chính nhớ bắt con gà trống trả tui”. Biết được mật hiệu có lính Mỹ tới, Chính ăn diện thật đẹp rồi xách ấm nước chè xanh qua. Vốn xinh đẹp lại ăn nói có duyên, cô đã làm cho một tên lính Mỹ ngẩn ngơ. Giả bộ ỏn ẻn, Chính mời tên lính Mỹ qua nhà chơi, nghe vậy hắn hí hửng đi theo. Cô dắt tên lính Mỹ đi hết tầm quan sát của đồng bọn, khi tới vị trí bờ ao giữa xóm thì du kích ta phục sẵn bắt sống.
Đang kể về cuộc đời mình thì chuông điện thoại đổ dồn, cô Chính dừng lời nghe điện. Người gọi đến là cô Mười Nhạn, Chủ tịch hội Từ thiện thành phố Đà Nẵng. Cô Chính bảo: “Cô Mười Nhạn gọi để thống nhất với tôi về kế hoạch chuyến đi Đèo Le (huyện Quế Sơn) tặng quà gia đình chính sách”.
 |
|
…và hôm nay |
Lúc này tôi mới có dịp quan sát căn phòng của cô ở, tất cả đều đơn sơ và giản dị. Chiến tranh đã đi qua gần 1/3 thế kỷ nhưng di chứng nặng nề của nó còn dai dẳng theo suốt cuộc đời người thương binh già... Cô sống đạm bạc một mình, toàn bộ tình thương của cô bây giờ dành cả cho những đối tượng chính sách và người dân nghèo. Cô bảo:
“Với mức trợ cấp thương binh 1/4 của cô, tiết kiệm chi tiêu cho cá nhân cũng chỉ hết 1/3 thôi. Số tiền còn lại tôi dành để làm từ thiện”. Chính vì thế, khi nào bệnh tình thuyên giảm, cô Chính lại lặn lội tìm đến đồng đội, người thân vận động quyên góp quần áo, sách vở, lương thực, thực phẩm... để giúp đỡ những người nghèo khổ.
Cô bảo, chỉ trong những ngày cuối cùng của năm Đinh Hợi và đầu năm Mậu Tý, cô đã cùng các tổ chức từ thiện thực hiện 4 chuyến về huyện Đại Lộc và vùng heo hút Đèo Le, huyện Quế Sơn, mang theo những thùng sữa, phần quà tặng các gia đình chính sách và một số đồng bào dân tộc Cơ Tu còn gặp khó khăn.
Hy sinh cả tuổi thanh xuân và một phần thân thể của mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương, bây giờ người nữ thương binh nhân hậu ấy lại vượt lên nỗi đau của chính bản thân mình, lặng thầm làm công việc đền ơn đáp nghĩa. Với chị, những việc làm có ý nghĩa với gia đình chính sách, người nghèo chính là món quà ý nghĩa nhất, là những liều thuốc bổ giúp chị vượt qua thương tật, bù đắp những thiệt thòi trong cuộc sống.
Bài và ảnh: PHAN TIẾN DŨNG