 |
|
Mặc dù lượng gạo xuất khẩu cao, nhưng lượng gạo trong nước vẫn còn khá dồi dào. Ảnh: Internet |
Lượng gạo xuất khẩu từ năm 2004 đến nay đã liên tục vượt qua mốc 4 triệu tấn; năm 2004 đạt gần 4,1 triệu tấn, năm 2005 đạt gần 5,3 triệu tấn, năm 2006 đạt trên 4,6 triệu tấn, năm 2007 đạt xấp xỉ 4,6 triệu tấn. Mặc dù lượng gạo xuất khẩu cao như vậy, nhưng lượng gạo trong nước vẫn còn khá dồi dào, nơi này nơi kia có thiếu, nhưng chỉ là cục bộ, còn nhìn tổng thể, vẫn còn dư dật.
Ngay trong năm 2008 này, mặc dù giá lương thực tăng cao, nhưng chủ yếu là do giá thế giới tăng kéo giá trong nước lên theo và có mấy ngày sốt giá chủ yếu do yếu tố đầu cơ và tin đồn nhảm.
Đáng lưu ý, lượng gạo xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm ước đạt 3.381 nghìn tấn, giảm khoảng 170 nghìn tấn (hay giảm 4,8%) so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá xuất khẩu trong vài tháng nay lại giảm mạnh so với những tháng trước và sản lượng lúa đông xuân của cả nước tăng trên 1 triệu tấn; lúa hè thu tăng cả về diện tích, sản lượng,... việc mua lúa ở đồng bằng sông Cửu Long cũng đang bị chậm lại.
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là cách tính cân đối lương thực theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) đã quá lạc hậu, không còn phù hợp với diễn biến thực tế hiện nay, làm cho lượng gạo dự kiến xuất khẩu thấp hơn thực tế. Ở đây xin nêu một số ví dụ: Lượng lúa giữ lại để làm giống được tính cân đối ở mức 200 kg/ha/vụ là định mức từ thời bao cấp, theo phương thức gieo và cấy trước đây. Nay với kinh tế hộ tự chủ, phương thức gieo sạ không chỉ được áp dụng đối với miền Nam mà đã được áp dụng cả đối với nhiều vùng ở miền Bắc, có vụ nếu không gieo thẳng thì cũng gieo mạ nền cứng; ở Nam Bộ còn dùng máy để gieo sạ,... nên lượng giống chỉ vào khoảng trên 100 kg/ha/vụ. Với tổng diện tích gieo trồng lúa của cả nước hiện chỉ có 7,2 triệu ha thì lượng giống sẽ không đến mức 1,45 triệu tấn như trước, mà chỉ vào khoảng 800 nghìn tấn, chênh lệch 650 nghìn tấn thóc hay trên 400 nghìn tấn quy gạo.
Lượng gạo dành cho nhu cầu ăn của người theo hướng dẫn của Bộ NN-PTNT vẫn ở mức 13 kg/người/tháng. Trong khi theo kết quả khảo sát mức sống của Tổng cục Thống kê năm 2006, thì lượng gạo các loại tiêu thụ bình quân 1 người 1 tháng bình quân chung cả nước là 11,4 kg, kể cả lương thực khác quy gạo cũng chỉ có 12,4 kg (nhóm giàu nhất chỉ có 9,5 kg gạo và 1,4 kg lương thực khác quy gạo). Với dân số của cả nước ước năm 2007 là gần 85,2 triệu người, thì lương thực (kể cả lương thực khác quy gạo) dành cho ăn theo cách tính cũ là 13,3 triệu tấn, còn tính theo kết quả khảo sát mức sống thì chỉ là 12,7 triệu tấn và chênh lệch với cách tính cũ đã lên đến 0,6 triệu tấn gạo.
Sản lượng lúa còn được trừ đi phần thất thoát sau thu hoạch và dùng cho chăn nuôi, theo cách tính cũ là 15%. Song, tỷ lệ hao hụt trong nền kinh tế hộ tự chủ cũng đã giảm; riêng về thức ăn chăn nuôi thì hiện nay cũng chủ yếu là phụ phẩm, ngô, khoai (năm 2007 sản lượng ngô trên 4,1 triệu tấn, khoai lang gần 1,5 triệu tấn, gần 8 triệu tấn sắn,...) và hiện đang nhập khẩu lớn. Với sản lượng lúa năm 2007 đạt 35,9 triệu tấn thì 15% sẽ lên đến 5,4 triệu tấn; nếu tỷ lệ trên chỉ cần giảm đi 1% thì đã chênh lệch khoảng 350 nghìn tấn, tương đương với trên 200 nghìn tấn gạo.
Chỉ với 3 khoản trên, chênh lệch giữa cách tính cân đối cũ với cân đối thực tế đã lên đến khoảng 1,2 triệu tấn gạo.
Đối với năm 2008, với sản lượng thóc ước tính đạt 37 triệu tấn, nếu cân đối cho giống khoảng gần 1 triệu tấn, cho ăn (86,2 triệu người) là 19,8 triệu tấn, trừ hao hụt (14%) là 5,2 triệu tấn và cho các nhu cầu khác (cho sản xuất công nghiệp, chăn nuôi, bổ sung dự trữ) khoảng 1 triệu tấn thì sản lượng còn lại để xuất khẩu có thể lên đến 10 triệu tấn, tương đương với khoảng 6 triệu tấn gạo. Vì vậy, để tranh thủ lúc giá gạo xuất khẩu còn cao, có thể đưa lượng gạo xuất khẩu cả năm lên cao hơn mức dự kiến trước (4,5- 6 triệu tấn).
Theo Thanh Niên