QĐND - Cựu chiến binh Nguyễn Đăng San hiện ở phường Giếng Đáy, thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), nguyên chiến sĩ Đơn vị M, Đoàn H (Quân khu 5) là người lưu giữ nhiều “kỷ niệm thời chiến viết bằng máu” của mình. Nhật ký chiến tranh của anh ghi lại những lần thoát hiểm trong điều kiện mà cả đơn vị tưởng anh đã hy sinh. Rất nhiều lần, anh gọi tôi đến nghe kể chuyện chiến đấu. Nhưng lần này, anh bỗng mơ màng kể về một tình yêu thời chiến tranh…
Lẽ ra hôm nay tôi rất vui. Nhưng bất chợt có cuộc điện thoại từ Hải Dương, mảnh đất mà đơn vị tôi đã đóng quân trước khi vào chiến trường. Cuộc điện thoại khiến tôi nhớ đến những “tình yêu hương bưởi”. Vì vậy, tôi phải gọi cậu đến kể ngay, kẻo ngày mai tôi lại quên mất.
 |
|
Cựu chiến binh Nguyễn Đăng San (người chống gậy) trong một lần đi thăm lại chiến trường xưa.
|
Này, cậu vẫn còn nhớ là tôi vào chiến trường từ 10-10-1970 đấy chứ. Đấy, bắt đầu từ ngày đó, cả đơn vị ra đi, đánh nhau hết trên đường Trường Sơn, chiến trường Lào, rồi về làm trận Đắc Tô-Tân Cảnh tháng 4-1972. Câu chuyện bắt đầu từ đây nhé.
Sau trận Đắc Tô-Tân Cảnh, tháng 5-1972, đơn vị tôi được lệnh bàn giao cụm quân sự để Mặt trận B3 quản lý. Trên đường cơ động về Kon Tum, tôi và Nguyễn Văn Vặn gặp nhau. Vặn với tôi, hai người cùng nhập ngũ ngoài miền Bắc và vào chiến trường với nhau một ngày. Vặn đang ở Tiểu đoàn 3 cùng trung đoàn, chạy đến ôm chặt lấy tôi nói rất xúc động: “Thế mà ai lại bảo là đồng chí hy sinh ở đường 559 rồi”. Tôi nói “Mình rất may trên cao điểm 748 và 723 ở Chiến dịch Đường 9, đến cao nguyên Bô-lô-ven Nam Lào, trung đội mình bị quân giặc bao vây đánh phá rất ác liệt, anh em chốt giữ trên cùng cao điểm hy sinh gần hết. Còn mình chỉ bị thương và sức ép nhẹ thôi”.
Rồi chúng tôi hàn huyên đủ chuyện. Giọng Vặn đều đều: “Chúng mình trực tiếp cầm súng chiến đấu, còn đến ngày hôm nay là may lắm rồi đấy”. Bất chợt Vặn hỏi: “Đồng chí có nhận được tin tức gì ở quê nhà không? Nghe đâu, làng mạc nhà khu mình bị máy bay Mỹ đánh phá dữ dội lắm. Bệ phóng tên lửa đóng ở xã bạn được pháo bắn bảo vệ dày đặc. Còn thôn xóm mình toàn bị hứng bom đạn của địch...". Chúng tôi thông báo cho nhau biết số đồng chí cùng nhập ngũ, cùng vào chiến trường đã hy sinh như: Doanh - Xuân - Hiệu - Hùng - Càn… Quê tôi đi đợt ấy kha khá, giờ chỉ còn lại mấy người thôi. Sau đó Vặn hỏi: “Đồng chí có biên thư gửi về quê không?”. Tôi trả lời: “Làm gì có giấy bút để viết mà gửi”. Hỏi qua thế thôi, gặp một người bạn cũ mà cả hai chúng tôi như được về quê hương, sao mà thấy hồn nhiên, tươi trẻ thế!
Tôi thấy Vặn lặng người hạ thấp giọng nói: “Không hiểu thế nào mà gần đây, Vặn thương người con gái nơi đóng quân quá San ạ”. Nghe anh nói xong, tôi nói: “Tôi biết rồi, ngày còn đóng quân trên đất Hải Dương, mình được mấy người cho biết, Vặn và N yêu nhau lắm phải không?”.
Sở dĩ, tôi nhớ chuyện tình của Vặn là vì tôi không bao giờ quên lúc 8 giờ sáng, ngày mồng 10-10-1970, chúng tôi trong trang phục Quân giải phóng miền Nam lấp lánh, tập trung đầy đủ tại sân kho Hợp tác xã Văn An, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đoàn quân nghiêm trang chào cờ. Lễ xuất quân đi chiến trường hôm ấy, có chỉ huy trung đoàn, chính quyền địa phương và gia đình có người thân ra trận. Dân làng nơi đơn vị tôi đóng quân đến rất đông, từng đôi trai gái hẹn hò nhau ngày về chiến thắng. Lúc chia tay lên đường, N-con gái bác chủ nhà, đến nắm chặt tay tôi nói trong nghẹn ngào nức nở. “Hẹn anh ngày vui trên quê hương em, thôn Bình Giang, xã Cổ Thành, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Anh đi chân cứng, đá mềm, có gì giúp đỡ cả anh Vặn em với nhé”.
Và bây giờ, tôi mới gặp lại Vặn sau 3 năm chinh chiến. Ngần ngừ mấy phút, Vặn kể về mối tình đầu: “Tiểu đội mình đóng quân trong nhà bà Bát cả. Tiểu đội đồng chí ở nhà bà Bát hai. Sau mỗi buổi học tập, huấn luyện, mình và cô ấy thường tâm sự với nhau. Tớ giọng khàn khàn thuốc lào, nhưng cũng học được vài làn điệu chèo để hát cho mấy cô ấy nghe. N có cảm tình với mình. Nhiều hôm hai đứa dắt tay nhau qua suối đi sang khu thao trường tâm sự. Chúng tôi ngắm nhìn sao đổi ngôi, nghe tiếng chim cu và gà gô cất tiếng gáy, mà hai đứa xao xuyến đến rơi nước mắt. Tình yêu của hai đứa mình có mấy người trong đơn vị biết và đến tai trung đội trưởng Tô Sỹ Quảng. Vì thế, mình không được ở cùng nhà để ra vào ngắm cô ấy nữa. Anh Quảng chuyển mình sang nhà ông Hải cùng xóm. Có hôm, hai đứa mình hẹn nhau trốn đi năm, sáu cây số ra thị trấn Phả Lại xem phim. Trời mưa, hai đứa đứng dưới bụi tre mơ ước: Nếu đất nước mình không có giặc, anh em mình không phải xa nhau, thì vui và hạnh phúc biết mấy!
Bố N là ông Bát, có hai bà vợ sinh được hai người con gọi là Đĩa to, Đĩa nhỏ. Đĩa nhỏ chính là N. Hai cô con gái ông bà Bát đều khá là xinh. Mà thú thực, làng Bình Giang hồi ấy còn có các cô như: Hương, Mơ, Lựu, Luyện và Na. Cô nào cũng đẹp gái, lại biết làm thơ hát đối với chúng tôi. Nhiều lúc lính đơn vị tôi không sao vận thơ kịp để hát đối giao duyên.
Nhưng trong số các mối tình quân-dân ấy, cặp Vặn và N yêu nhau say đắm. Vặn kể: “Ngày chuẩn bị đi chiến đấu, mình nghĩ khó mà trở về với cô ấy được, nên đã nói: N đừng đợi Vặn nữa, em hãy đi xây dựng gia đình và khi sinh cháu, nhớ đặt tên có chữ cái vần V trùng với chữ cái đầu tên của Vặn. Để hằng ngày gọi tên con mà nhớ tới mối tình của anh và em. Cô ấy gục đầu vào lòng khóc và nói sẽ đồng ý với đề nghị của Vặn. Này cậu ạ, cô ấy nhận lời yêu, đồng ý sẽ quên mình đi để lấy chồng nhưng mình biết là tất cả những điều ấy, N chỉ làm để mình yên tâm đi chiến đấu. Mình không thấy có cô gái nào tuyệt với hơn thế nữa đâu”.
Lần đó, tôi và Vặn bảo nhau, nếu anh em mình còn sống, nhất định phải về làng Bình Giang, để cảm ơn các gia đình và những cô gái có cảm tình với anh em bộ đội. Một trong hai người còn về được thì thay mặt nói với nhân dân nơi đóng quân, là bọn mình rất nhớ và thương yêu làng quê bé nhỏ ấy. Rồi Vặn ghé sát vào tôi nhấn mạnh: Nếu mình không may hy sinh, San còn may mắn trở về phải đến thăm và nói với N hộ rằng: Nguyễn Văn Vặn vẫn ngày đêm nhớ về mối tình đầu của hai đứa ngày ấy. Một lúc sau anh hỏi tôi: "Đơn vị đồng chí có đói lắm không, chứ đại đội mình hàng chục ngày nay gian khổ quá. Đêm qua, Vặn vào khu đồn bốt trung đoàn ta đánh thắng làm chủ, mà không nhặt được một tý lương thực, thực phẩm gì cho vào bụng. Mấy hôm nay đơn vị vận động đánh địch liên tục, mà chỉ có vài miếng sắn nhỏ cho vào bụng thôi".
Tôi mở ba lô lấy đưa cho anh ba gói cơm sấy và hai hộp thịt ba lát nhỏ, vừa mới thu nhặt được trong hầm hào, lô cốt địch. Đồng đội bắt tay tạm biệt những ngày vô cùng khó khăn ác liệt trên núi rừng Tây Nguyên, hẹn gặp nhau ngày Nam - Bắc thống nhất, trên quê hương Kim Thành, Hải Dương yêu dấu.
Nhưng rồi, cậu ạ... Vì sao mà tôi lại phải gọi cậu đến để nghe câu chuyện không đầu, không cuối này là: Nguyễn Văn Vặn, người đồng đội nhỏ bé nhanh nhẹn, đi đánh nhau mà vẫn giữ mãi trong lòng mối tình tuyệt đẹp với N, đã hy sinh trong một trận chiến đấu với quân thù tại xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, vào một chiều cuối thu năm 1972 (ngày 6-10-1972).
Trong chiến tranh, chuyện của Vặn không phải là duy nhất đâu. Tôi còn sống trở về, mang theo hàng trăm lời dặn dò của các đồng đội đã mãi mãi ra đi. Hôm nay, bất chợt nhớ lại chuyện này, gọi cậu đến nghe là để cậu tư vấn cho tôi. Tôi muốn tìm về thôn Bình Giang, có nên không nhỉ? Tôi sẽ gặp lại N, để nói một câu: “Cảm ơn em đã… chia tay đồng đội anh. Cảm ơn thật đấy, tôi cũng như anh Vặn, hiểu rằng nói chia tay nghĩa là còn yêu nhau lắm. Điều này, bây giờ, các bạn trẻ không dễ gì hiểu được”.
Bài và ảnh: Văn Học