Trong gần 15 năm trên cương vị Đội trưởng Đội quy tập hài cốt liệt sĩ 584, Bộ CHQS Quảng Trị, từ những cánh rừng Lào, Thượng tá Trần Hữu Lưu đã cùng với đồng đội tìm kiếm, quy tập được 2.168 hài cốt liệt sĩ, trong đó, 607 hài cốt có thông tin về tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị. Ở địa bàn trong nước, anh và đơn vị quy tập được 521 hài cốt liệt sĩ… Việc làm của anh và đồng đội đã góp phần xoa dịu nỗi đau cho hàng nghìn gia đình, người thân các liệt sĩ. Vậy mà với gia đình nhỏ bé của mình, nỗi đau về những đứa con tàn tật, chưa lúc nào nguôi trong tâm trí người đội trưởng quả cảm này.

Nén tình riêng...

Mùa mưa năm 2010, như lời hẹn từ năm ngoái với Thượng tá Trần Hữu Lưu, tôi tìm về Đội quy tập hài cốt liệt sĩ 584, Bộ CHQS Quảng Trị. Nét mặt anh sạm đen hơn bởi vừa trải qua một chuyến luồn rừng dài ngày đi tìm đồng đội. Đất bạn Lào cũng chính là địa bàn anh đã từng chiến đấu, khi còn là người lính tình nguyện thuộc Đoàn C68: Năm 1982 anh nhập ngũ, sang Lào chiến đấu; năm 1984 về nước học sĩ quan, học xong lại sang Lào...

Thượng tá Trần Hữu Lưu (bên trái) cùng đồng đội tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trong rừng Lào.

Những năm tháng làm nhiệm vụ quốc tế ở đất bạn, anh hoàn toàn không biết mình đã bị nhiễm chất độc da cam. Bởi vậy, cũng như bao người đàn ông khác, anh lấy vợ. Trái ngọt tình yêu của anh chị là những đứa con lần lượt chào đời. Tuy nhiên, niềm vui ngắn chẳng tầy gang, hai con (một trai, một gái) của anh chị đều bị ảnh hưởng của di chứng chất độc da cam. Anh chị đã đưa hai cháu đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác để chữa trị, nhưng không có kết quả... Đất nước hòa bình, anh trở về trong niềm vui của người vợ - chị Nguyễn Thị Viên ở xã Vĩnh Trung, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Nhưng vì nhiệm vụ, vì những đồng đội còn nằm lại ở đâu đó trên chiến trường nước bạn, thế là anh lại khoác ba lô, tạm biệt người vợ và hai đứa con tật nguyền, ốm yếu lên đường... Và cũng chính từ ngày đó, việc chăm sóc hai đứa con tàn tật chỉ còn cậy nhờ vào người vợ tảo tần, cùng sự giúp đỡ của bà con lối xóm.

Hôm anh lên đường vào đơn vị để chuẩn bị sang Lào tìm hài cốt liệt sĩ, chị Viên tay ôm con gái nhỏ, tay dắt con trai lớn sang nhà hàng xóm. Chị không muốn anh nhìn thấy chị khóc; không muốn anh nhìn thấy hai đứa con tàn tật ngơ ngác nhìn anh đeo chiếc ba lô nặng trĩu sắp sửa xa nhà. Chị sợ anh thêm bận lòng... Trong một đêm ở chùa Đen Sa Vẳn, huyện Sê Pôn (Lào), nơi tập kết hài cốt liệt sĩ để các nhà sư Lào làm lễ cầu siêu, anh Lưu đã kể cho tôi nghe câu chuyện đó. Rồi anh đốt một bó nhang lớn, đến cắm lên 55 phần hài cốt liệt sĩ phủ Quốc kỳ đỏ thắm, ngày mai sẽ trở về Tổ quốc, về với Đất Mẹ. Trong ánh nhang lập lòe, tôi nhìn thấy đôi dòng nước mắt chảy trên gương mặt sạm đen của người đội trưởng... Ngày mai, cùng với  hài cốt các liệt sĩ, cùng với cán bộ, chiến sĩ Đội 584, anh cũng sẽ trở về Đất Mẹ, về nhà mình...

Những cơn mưa rừng mịt mù trắng xóa trên dãy Trường Sơn, khiến anh nôn nao nhớ một lời hứa với con gái. Hôm đó, thấy anh sắp lên đường đi xa, con gái anh dù mười tám tuổi rồi nhưng trí tuệ chỉ như cô bé lên ba, cứ lân la sờ nắn cái ba lô của anh, hỏi bập bẹ:

- Ba đi công tác, khi mô (khi nào) thì về?

- Đến mùa mưa, con ạ!

- Mùa mưa là chi (là gì), ba?

- Là lúc nào con thấy ngoài trời mưa thật to, thì ba sẽ về với con.

 Lầm lũi đi tìm đồng đội

Nhưng bây giờ, hãy còn là mùa khô! Rừng Lào mênh mông, địa bàn tỉnh Sạ Vẳn Nạ Khệt chủ yếu là rừng rậm chen lẫn rừng tre, nứa. Đây từng là chiến trường ác liệt, nơi cán bộ, chiến sĩ của ta hy sinh rất nhiều. Chiến tranh qua đã mấy chục năm, cùng với thời gian, mưa nguồn, địa hình đã thay đổi, biến dạng, những người trực tiếp an táng các liệt sĩ nay đã già yếu, thậm chí nhiều người không còn, nên việc tìm kiếm thông tin hết sức khó khăn. Giữa cái nóng ghê người, tất cả các khe suối đều cạn kiệt nước, bao nhiêu đêm nằm trên võng, treo lơ lửng một câu hỏi lớn trong đầu Đội trưởng Lưu: Phải làm sao để tìm được các bác, các anh, các chị - những người đồng đội đã hy sinh cho Tổ quốc, cho nhân dân. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ, mình là người có lỗi. Anh Lưu đã bàn với các đồng chí trong cấp ủy, chi bộ xác định quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ, dù có phải chịu nhiều gian khổ, thậm chí hy sinh, cũng phải hoàn thành nhiệm vụ, tìm bằng được hài cốt các liệt sĩ.

Một nguồn thông tin quan trọng là từ các cựu chiến binh, từ những người bạn Lào. Đội trưởng Lưu tìm đến các địa bàn mà trước đây có lực lượng của ta và bạn đóng quân, nhất là các trạm phẫu để xác định vị trí, tiến hành xây dựng kế hoạch, tổ chức khảo sát chu đáo. Mùa khô 2007 - 2008, có tin báo ở bản Na Lù, huyện Mường Pìn có mộ liệt sĩ bộ đội Việt Nam! Lập tức, Thượng tá Lưu dẫn bộ đội hăm hở hành quân cả ngày lẫn đêm… Nhưng khi đến nơi, một việc bất ngờ xảy ra: Dân bản không cho bộ đội vào vì họ đang chuẩn bị đám tang cho ông Bun Nạp, phó bản Na Lù. Anh Lưu đành cải trang thành người ở bản khác đến dự đám tang và phát hiện: ông Bun Nạp chưa chết! Ông ấy do bị bệnh hen suyễn lâu ngày nên sức khỏe suy kiệt, lịm đi. Cùng với y sĩ Sáng, anh Lưu cam đoan với dân bản sẽ cứu sống Bun Nạp, nếu không được, "bộ đội sẽ chịu nộp phạt một con trâu". Ông Bun Nạp được cứu sống, buộc chỉ cổ tay kết nghĩa làm anh em, rồi vận động bà con giúp bộ đội Việt Nam tìm hài cốt liệt sĩ.

Những năm trở lại đây, việc tìm kiếm lại càng khó khăn hơn, các phần mộ còn lại chủ yếu nằm rải rác trong những cánh rừng sâu, nơi núi rừng hiểm trở, những địa danh ít người biết đến, nhiều nơi không còn người qua lại như Phù Xeeng He, Suối Trâu, Huội Trắng, Đen Vi Lay - Mường Noòng... Số người biết thông tin, địa điểm các phần mộ của liệt sĩ hầu hết đã ở tuổi 70 - 80. Địa hình hiểm trở nên mỗi ngày anh em hành quân được vài cây số vì phải vừa đi, vừa phát bụi, chặt cây... Đã có những lúc không tìm thấy nước, dưới cái nắng như thiêu như đốt, cán bộ, chiến sĩ phải chặt cây rừng lấy nước uống cho đỡ khát... Có lúc tình hình hết sức căng thẳng, đang quy tập thì mưa rừng kéo đến. Sau trận mưa, tất cả các khe suối đều ngập nước, địa hình bị chia cắt hoàn toàn. Gạo, thực phẩm không còn, cán bộ, chiến sĩ trong đội đành động viên nhau đào củ rừng, lấy rau rừng, măng đắng để ăn cho qua ngày, chờ nước rút mới tìm đường về lấy lương thực, thực phẩm...

Ngày 8-3-1997, ở bản Văng Phà, bên bờ sông Sê Băng Hiêng, chiến sĩ Phạm Việt Hòa đang ốm nhưng nằng nặc xin Đội trưởng Trần Hữu Lưu cho tham gia chuyên chở hài cốt liệt sĩ về nơi tập kết… Chiếc thuyền độc mộc mượn của dân thật bé nhỏ giữa dòng sông chảy xiết. Hài cốt liệt sĩ số 8 được Hòa cẩn thận bọc lại chắc chắn, buộc chặt vào thuyền. Thuyền trôi nhanh, khuất tầm mắt. Bóng Hòa nhỏ dần với cây sào chống trên dòng Sê Băng Hiêng là hình ảnh cuối cùng, in đậm trong trí nhớ của Đội trưởng Lưu… Chiếc thuyền chở Hòa rơi vào vòng xoáy của dòng sông hung dữ, thuyền đâm vào ghềnh đá, đập vào đầu, Hòa bị chấn thương, rơi, và… chìm xuống dòng sông cuồn cuộn. Nhưng hài cốt liệt sĩ vẫn còn nguyên vẹn. Chiếc thuyền mượn của dân vẫn còn nguyên vẹn… Chỉ có chiến sĩ Phạm Việt Hòa vĩnh viễn ra đi giữa tuổi hai mươi tràn đầy khát vọng…

"Không, anh Lưu bỗng thốt lên, rồi quay sang tôi nói - Hình ảnh cuối cùng của Hòa in đậm trong tôi là đôi mắt cậu ấy… Chúng tôi tìm kiếm, đưa Hòa lên bờ khâm liệm. Đôi mắt cậu ấy cứ đăm đắm nhìn tôi… Đôi mắt cậu ấy như hai mảnh gương nhỏ soi rõ đồng đội và bà con dân bản vây quanh, trong cái buổi chiều buồn thảm ấy. Đôi mắt Hòa tôi không thể nào quên được…".

Suốt mười lăm năm cùng đồng đội lầm lũi trong những cánh rừng Lào đi tìm đồng đội, Đội trưởng Lưu chứng kiến nhiều cán bộ, chiến sĩ của mình đã hy sinh như vậy. Và chính những sự hy sinh mất mát đó, càng chất thêm tình cảm, trách nhiệm nhiều hơn của anh đối với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, mà anh xem như là những đứa em, đứa cháu.  Một lần, đường hành quân mang 28 hài cốt liệt sĩ quy tập được ở huyện Sê Pôn về khu vực tập kết của đội bị chặn lại vì rừng cháy bốn bề. Gió thổi ngọn lửa ngày càng tiến lại gần. Anh Lưu chỉ huy bộ đội trú tạm trong một hố đạn pháo. Đã 4 giờ chiều, trong hố đạn sót lại một ít nước đục. Ý định lấy số nước nhỏ nhoi này để nấu cơm đã không được tán thành, bởi anh Lưu động viên anh em cố gắng nhịn đói, dành số nước quý báu này để "phòng thân". Khi lửa rừng cháy trùm lên khu vực ẩn nấp, anh cùng các đồng đội dùng toàn bộ số nước ít ỏi ấy tưới đẫm lên 28 gói ni lông bọc hài cốt liệt sĩ. Và chính nhờ quyết sách sáng suốt ấy, anh không chỉ bảo toàn được tính mạng của cán bộ, chiến sĩ trong đội, mà còn giữ được nguyên vẹn hài cốt các liệt sĩ trước sự đe dọa của lửa rừng.

Cho đến hôm tôi có mặt đón cán bộ, chiến sĩ Đội 584 vừa hoàn thành một "mùa quy tập hài cốt liệt sĩ" trở về nước, cũng chỉ tranh thủ được ít phút trò chuyện với Đội trưởng Lưu để lấy tư liệu cho bài viết này. Bộ đội đã xếp quân tư trang vào nhà nghỉ, dọn dẹp doanh trại, nhà ở, nhà bếp, nhà xe xong xuôi, thì anh Lưu vẫn còn tất bật với công tác bàn giao hồ sơ các phần mộ liệt sĩ cho Ban quản lý Nghĩa trang quốc gia Đường 9 - Đông Hà. Cơn mưa đầu mùa rất to, rửa sạch bụi đỏ rừng Lào trên thùng hai chiếc xe Zin ba cầu đỗ ngoài sân làm tôi nhớ đến lời hứa của anh Lưu với con gái Trần Thị Ngọc… Có lẽ cháu Ngọc giờ đây đang ngồi ở hiên nhà ngóng đợi. Vì mùa mưa đã đến thật rồi…

Bài và ảnh: Trần Hoài