QĐND - Tôi đi theo những hàng dọc rồi hàng ngang dãy dãy mộ ở Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Những dòng người qua lại, chầm chậm, thầm thì, lao xao, khói hương đan quyện, lan lan. Có người bước nhẹ đến vỗ vai tôi, có người cất tiếng nho nhỏ gọi tên nhau… những người đến đây đều thành thân quen cả. Mùa hành hương tháng Bảy đông đúc thế. Từ Lạng Sơn, Hà Nội, Quảng Ninh, Quảng Bình… Từ Quảng Ngãi, TP Hồ Chí Minh, An Giang… Tất cả hòa cùng đoàn đua xe đạp thể thao tình nghĩa "Về Trường Sơn-2012" Cúp Báo Quân đội nhân dân. Mùa hành hương cũng là mùa đoàn tụ.

Đêm Huyền thoại Trường Sơn.

Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn bây giờ đã rười rượi bóng cây, che bớt nắng nóng và gió lạnh cho những nấm mộ và mọi người đến thăm viếng cả bốn mùa trong năm. Cây bồ đề do Ban quản lý đường Hồ Chí Minh mới trồng mười năm trước nay cũng đã sớm sum suê cành lá trùm bóng mát lên Đài tưởng niệm. Quyết định khởi công xây dựng Nghĩa trang vào ngày 24-2-1975, ngay trong khi đất nước vẫn còn khói lửa chiến tranh, chắc hẳn các đồng chí ở Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn đã nghĩ đến ngày tụ hội thanh bình, yên ấm hôm nay. Mỗi ngày qua đi, cuộc sống lại thêm những lời đáp đền cho niềm tin của những người năm xưa. Dòng người hành hương tiếp nối nhau ngày càng đông nói rằng, những người hôm nay dù còn khó khăn thiếu thốn hay giàu có, dù vất vả bám đất, bám làng hay bôn ba lo toan khắp bốn biển năm châu vẫn luôn nhớ những miền quê mãi ôm ấp một thời máu xương.

Anh Đoàn Công Tính, phóng viên duy nhất của Báo Quân đội nhân dân và làng báo cả nước đã có mặt trong trận chiến 81 ngày đêm bám trụ kiên cường của bộ đội ta ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972 vẫn bảo với tôi: Cứ mỗi lần trở về Quảng Trị, ta lại thấy thêm một điều gì mới của cả quá khứ, hiện tại và hiểu thêm chính mình. Một lần để trả lời câu hỏi phỏng vấn của một đoàn làm phim nước ngoài rằng, vì sao trong những loạt bom rải thảm và làn mưa đạn, lại không có tàu bè, phương tiện vượt sông, bộ đội Việt Nam vẫn vượt được dòng Thạch Hãn vào Thành cổ, Đoàn Công Tính đã xin phép cởi áo bơi một mạch qua lại con sông trước ống kính máy quay. Anh nói: Bộ đội chúng tôi, ngoài chí khí cảm tử còn được rèn luyện rất kỹ càng. Tuổi gần bảy mươi, sau những chuyến thỏa sức đi bộ và chụp ảnh ở Pa-ri, Rô-ma, Niu Y-oóc, Tô-ki-ô, anh lại về dẫn bạn bè và những đồng đội trẻ leo lên trận địa cũ trên các điểm cao quanh Khe Sanh, Đầu Mầu, Tích Tường, về Vĩnh Linh, ra đảo Cồn Cỏ… Năm nay, anh có ước nguyện thực hiện một chuyến thăm và bơi qua đủ bốn con sông Quảng Trị mà bốn mươi năm trước anh đã từng vượt qua: Sông Bến Hải, Hiếu Giang, Cửa Việt, Thạch Hãn.

Quả thực, mỗi người hành hương về Quảng Trị đều tìm lại hoặc phát hiện, khám phá thêm điều gì. Tôi vẫn nhớ những bức tranh chiến trận của họa sĩ Hải Nghiêm. Máu lửa, khốc liệt ám ảnh anh cả đời. Anh kể một lần gần đây anh thăm lại Thành cổ, tìm thấy đúng vị trí chốt của đơn vị. Rồi anh đào bới dưới chân thành. Trong đống gạch vụn, anh tìm thấy đúng viên gạch mà chính mình, người lính trẻ nghịch ngợm, ngang tàng 40 năm trước giữa hai đợt bom địch giội xuống đã khắc vội dòng chữ: "Năm 72, tao đã ở đây". Cái dấu tích nhỏ nhoi ấy phải chăng đã góp thêm chút ít để nói rằng, bom đạn không thể khuất phục, không thể xóa sạch ý chí mãnh liệt của con người.

Các cháu thiếu nhi chăm sóc mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Ảnh: LÊ BÁ DƯƠNG

Nhìn vào đất lửa mắt sẽ sáng hơn. Có phải vì thế mà anh Lê Duy Ứng, người đã đi cùng tôi suốt chặng hành tiến thần tốc mùa xuân năm 1975 từ Đà Nẵng cho đến khi bị thương hỏng mắt trước cửa ngõ Sài Gòn cho đến nay vẫn không rời tay nặn tượng và vẽ. Có phải vì thế nên chiến đấu ở Quảng Trị nhiều năm, kỷ niệm tình yêu giữa chiến trường, anh đã đặt tên cho con trai là Lê Đông Hà. Có phải vì thế mà nhiều người, trong đó có anh rể tôi, người thương binh ở mặt trận Trị Thiên đã từng tiễn con đi du học ở Mỹ bằng một chuyến thăm Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, qua các nơi anh đã từng sống, chiến đấu. Có phải vì thế mà cô Lê Thị Thúy, một người lớn lên sau chiến tranh, năm nào cũng tổ chức mấy đợt đưa người ở Hà Nội, Hưng Yên đi du lịch "về nguồn" Điện Biên Phủ, Quảng Trị… Có gì đó rất thiêng liêng, giàu khát vọng hiện lên trên những gương mặt trẻ của đoàn đua xe đạp "Về Trường Sơn-2012" cùng những người trẻ trong đoàn của Thúy và các đoàn từ các địa phương đang đứng nghiêm trang trước Đài tưởng niệm. Họ đã có thêm một trải nghiệm, một lớp học về đất nước, con người.

Một trong những người Quảng Trị trẻ mà tôi quen thân là Thiếu tá Tạ Quang Vũ, Trợ lý Ban Tuyên huấn Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị, chỉ vì thấy anh luôn vất vả vì nhiều việc đột xuất đón đưa những đoàn khách từ khắp nơi về quê mình đi tìm mộ liệt sĩ, thăm lại chiến trường xưa mà thương quý anh rồi thành thân. Một đêm, chúng tôi tranh thủ về thăm nhà Vũ ở thôn Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh. Chỉ trong gia đình của anh đã là cả những câu chuyện dài về phân ly đau khổ trong chiến tranh. "Gan Mai Xá như đá Hảo Sơn", bà nội Vũ là người nuôi Việt Minh thời đánh Pháp, mẹ Vũ - bà Lê Thị Địu là một trong mười cô du kích làng Mai nổi tiếng giữa vùng vành đai trắng trong kháng chiến chống Mỹ. Bố Vũ đi cách mạng, nhưng người bác lại bị bắt đi lính ngụy. Đi lính ngụy nhưng thương mẹ, thương em, cảm tình với "đằng mình".

Đêm tôi đến thăm, bà nội Vũ bị mệt, cả nhà quây quần quanh giường bà. Mẹ Vũ, giống như bao người phụ nữ Gio Linh lạc quan, thích văn thơ, câu nói nào cũng thành vần thành vè. Người bác "lính ngụy" năm xưa hát lại những bài hát cách mạng của tuổi thơ ông hồi kháng chiến 9 năm đánh Pháp. Chỉ một người duy nhất không có mặt, và là không có mặt vĩnh viễn. Đó là bố Vũ. Hòa bình, bố Vũ rời tay súng đi dạy học. Nhà nghèo, cũng như bao gia đình khác, ông phải lo kiếm thêm bằng cách nhặt nhạnh đào bới sắt vụn. Rồi một tiếng nổ bất ngờ từ đống sắt thép chết chóc.

Quảng Trị gần 40 năm sau chiến tranh, những tiếng nổ như thế vẫn bất chợt bùng lên đây đó, những mảnh xương cốt đồng bào, chiến sĩ vẫn bất chợt tìm thấy nơi này nơi kia. Ngày cuộc đua xe đạp "Về Trường Sơn-2012" vừa kết thúc, các đồng chí trưởng, phó ban tổ chức cùng anh em trở lại thăm mộ các nhà báo liệt sĩ của Báo Quân đội nhân dân, Lê Đình Dư và Nguyễn Ngọc Nhu. Đúng lúc ấy thì đoàn được chứng kiến và cùng làm lễ truy điệu, an táng tại Nghĩa trang Gio Linh bộ hài cốt của một sĩ quan mới tìm thấy. Tiếp đó, ở Nghĩa trang xã Gio Thành, đoàn lại được tham gia lễ truy điệu một nữ liệt sĩ của xã.

Cứ như là tình cờ, cứ như là may mắn… Quảng Trị những năm tháng hậu chiến có biết bao câu chuyện hội ngộ và đoàn tụ diễn ra như thế bởi sự linh thiêng của trời đất hòa cùng lòng người thơm thảo.

Chợt văng vẳng bên tai tôi câu hát "Tiếng đàn Ta-lư". Hình như không ở đâu tiếng hát này cất lên nhiều và hay như ở Quảng Trị, Khe Sanh. Mới chuyến đi lần trước, tôi đã đi tìm một người hát bài hát ấy - cô giáo trẻ Hồ Thị Hồng Tư. Bố cô là người Pa Kô, mẹ người Vân Kiều, tốt nghiệp Trường Đại học Vinh (Nghệ An), cô về quê Khe Sanh dạy văn hóa và dạy hát cho các em ở Trường phổ thông Dân tộc nội trú. Tôi hỏi vì sao ở đây lắm người hát hay thế? Cô giáo bảo rằng chính rừng núi Hướng Hóa, Đắc Krông, suối La La đã cho những người Vân Kiều, Pa Kô mang họ Bác Hồ giọng hát đẹp và vang rất xa ấy.

Khe Sanh, Lao Bảo cứ mỗi năm gặp lại lại thấy đông đúc, sầm uất thêm. Các đồng chí lãnh đạo huyện Hướng Hóa báo tin cho tôi biết, Chính phủ đã quyết định xây dựng Khe Sanh - Lao Bảo thành thị xã, khu kinh tế cửa khẩu, rồi tiến lên thành thành phố đô thị  trong tương lai. Và cái tên Khe Sanh - Lao Bảo vẫn giữ. Khe Sanh - cái tên đã trở thành "Khe Tử" đối với quân giặc trong chiến tranh giờ đang từng ngày sinh sôi. Những năm tháng này, cao su, cà phê, chuối, keo… đã mọc thành rừng bạt ngàn trên vùng đồi núi bị bom đạn cày xới và chất độc hóa học làm trơ trụi năm xưa. Các doanh nghiệp, các nhà máy đang về, bộ đội vẫn đang giúp dân khai hoang trồng lúa, trồng rừng, làm đường, xây trường học trên các làng bản xa, các vùng biên giới. Khe Sanh đang cùng Quảng Trị ngày ngày thêm đoàn tụ, sinh sôi.

Tùy bút của MẠNH HÙNG