QĐND - Triển lãm, hội chợ thành tựu 10 năm xây dựng và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) khai mạc vào sáng 27-4, tại Khu Đô thị Nam sông Hậu (Cần Thơ) do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp với Quân khu 9, các bộ, ngành Trung ương, thành phố Cần Thơ tổ chức. Đến dự có các đồng chí: Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội;Vũ Văn Ninh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trương Vĩnh Trọng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cùng đại biểu đại diện lãnh đạo bộ, ngành Trung ương và địa phương và nhân dân vùng ĐBSCL.
 |
|
Các đoàn diễu hành xe hoa tại lễ khai mạc
|
Mặc dù thời tiết xấu nhưng ngay từ sáng sớm ngày 27-4, hàng trăm nghìn người dân đã có mặt trên các con đường đổ về Khu Đô thị Nam sông Hậu (Cần Thơ) để tham quan các hoạt động triển lãm, hội chợ thành tựu 10 năm (từ năm 2001 đến năm 2010) xây dựng và phát triển vùng ĐBSCL. Tại đây diễn ra các hoạt động sôi động, hấp dẫn như: Trình diễn các loại hình văn hóa phi vật thể đặc trưng của 4 dân tộc Kinh, Khơ-me, Hoa, Chăm; hội thi “Giọng hát hay với những ca khúc truyền thống cách mạng”; chương trình nghệ thuật đặc sắc, mang đậm phong cách, văn hóa con người vùng ĐBSCL với chủ đề “Tây Nam Bộ - 10 năm thành tựu và liên kết phát triển”.
Bà Trần Thị Hai, quê xã Đông Bình, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, nói:
- Triển lãm, hội chợ có ý nghĩa thiết thực đối với nhân dân vùng ĐBSCL. Thông qua triển lãm, hội chợ này, tôi mong các cấp chính quyền tạo điều kiện cho bà con phát triển kinh tế để đời sống nhân dân ngày càng ổn định, phát triển hơn nữa.
Ông Nguyễn Phong Quang, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ cho biết:
- Đây là sự kiện có ý nghĩa to lớn và quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, nhằm huy động các nguồn lực giải quyết an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân trong vùng, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thúc đẩy đầu tư, xúc tiến thương mại và du lịch, tạo điều kiện, cơ hội cho các tổ chức, doanh nghiệp quảng bá thương hiệu, giới thiệu về tiềm năng, năng lực của mình trong lĩnh vực nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch…
10 năm thực hiện Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị (2001-2010), kinh tế vùng ĐBSCL phát triển nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, hiệu quả sản xuất được nâng cao, tổ chức huy động tốt các nguồn lực đầu tư, môi trường đầu tư được cải thiện. Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn vùng giai đoạn 2001-2010 đạt 11,7%/năm. Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu toàn vùng năm 2010 đạt 9,3 tỷ USD. Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người/năm tăng gấp 2,5 lần so năm 2001. Trong 10 năm, vùng đã huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 627 nghìn tỷ đồng. Thu ngân sách đạt 141.817 tỷ đồng. Môi trường đầu tư vùng ĐBSCL được cải thiện.
Các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp phát triển khá, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, phát huy lợi thế sản phẩm chủ lực của vùng (lúa gạo, thủy sản, trái cây), thể hiện vai trò trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản của cả nước. Cụ thể, giá trị sản xuất toàn ngành tăng từ 56.292 tỷ đồng năm 2001 lên 101.000 tỷ đồng năm 2010, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2010 đạt 6,9%/năm. Thu nhập trên mỗi héc-ta đất sản xuất nông nghiệp trong vùng tăng từ 20,2 triệu đồng/ha vào năm 2000 lên gần 38 triệu đồng/ha năm 2010.
Công nghiệp được chú trọng phát triển, đi dần vào khai thác các thế mạnh của vùng về công nghiệp chế biến nông sản, bước đầu tập trung đầu tư phát huy lợi thế về công nghiệp dầu khí, năng lượng, nhiệt điện và cơ khí. Thương mại, dịch vụ, du lịch, thông tin và truyền thông có bước phát triển, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu thụ và đời sống nhân dân. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng có nhiều cố gắng, hạ tầng giao thông có nhiều chuyển biến, gắn kết với thủy lợi. Toàn vùng cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ, các đô thị được đầu tư, nâng cấp. Giáo dục đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc Khơ-me, Chăm được cải thiện. Quan tâm thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, kiện toàn hệ thống chính trị,…
Tuy nhiên, phát triển kinh tế vùng ĐBSCL chưa bền vững, sức cạnh tranh còn thấp. Nông nghiệp có lợi thế nhưng chưa khai thác tốt tiềm năng và đạt hiệu quả các mặt hàng nông sản chủ lực, chưa tạo được nhiều thương hiệu mạnh. Nền kinh tế nông nghiệp quy mô nhỏ, bị đe dọa nguy cơ biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Thu hút đầu tư chưa nhiều, nhất là đầu tư nước ngoài. Kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi tuy được tập trung đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Một số công trình trọng điểm về giao thông chưa được đầu tư xây dựng.
Giáo dục đào tạo, dạy nghề, văn hóa xã hội còn nhiều hạn chế so với các vùng, miền khác. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đạt yêu cầu. Thực hiện Quyết định 134, Quyết định 33, Quyết định 74 và Chương trình 135 của Thủ tướng Chính phủ ở một số tỉnh còn chậm. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở Đảng trong vùng còn hạn chế nhất định, công tác lãnh đạo ở một số nơi còn lúng túng về phương thức và nội dung dàn trải, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, nhất là công tác quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Đồng bằng sông Cửu Long sau 10 năm phát triển đã thay da, đổi thịt, nhiều tuyến đường, nhiều cây cầu, nhiều trường đại học đã hình thành, người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Đất Chín Rồng sẽ vươn mình bay cao, bay xa hơn nữa, để nơi đây mãi là vựa lúa, vựa trái cây của cả nước và thế giới.
|
Phát biểu tại lễ khai mạc, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh nhấn mạnh, trong thời gian tới, các địa phương cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, góp phần đưa ĐBSCL trở thành vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Tập trung phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của vùng trong giai đoạn mới. Kết hợp phát triển kinh tế với các lĩnh vực văn hóa, giáo dục xã hội trong vùng, nhất là khu vực có đông đồng bào dân tộc Khơ-me…
|
Bài và ảnh: HUỲNH VĂN XÂY