 |
| Giao lưu gặp mặt nhân chứng lịch sử ngày 3-8 tại Đoàn M70. |
45 năm đã trôi qua, bằng tình yêu Tổ quốc và lòng quả cảm vô biên, quân và dân miền Bắc đã làm nên chiến thắng trận đầu. Chiến thắng lẫy lừng ấy mãi khắc ghi trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và trở thành động lực, quyết tâm bảo vệ biển trời Tổ quốc mãi mãi bình yên…
Tạc vào sử xanh một thời bất tử
Những ngày Tháng Tám lịch sử, không chỉ trên đất liền, mà trên mọi vùng biển đảo của Tổ quốc đều nô nức, phấn khởi thi đua lập thành tích chào mừng Kỷ niệm 45 năm đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng. Và ký ức một thời oai hùng lại hiện về…
45 năm đã qua đi, những cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tham gia đánh thắng trận đầu ngày ấy đều đã ngoài 60, có người đã hơn 80 tuổi, nhưng những câu chuyện họ kể trong hai đêm giao lưu (ngày 3 và 4, tại Quảng Ninh và Đà Nẵng) vẫn vô cùng sống động.
Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh – Nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân nhớ lại: “Với ý đồ “khiêu khích Bắc Việt Nam”, từ những ngày đầu tháng 8-1964, ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, tàu khu trục Ma-đốc, thuộc lực lượng hải quân Mỹ liên tục xâm phạm hải phận của nước ta và gây ra một số vụ khiêu khích đối với thuyền đánh cá của ngư dân miền Bắc. Đặc biệt đêm 31-7 rạng sáng 1-8, tàu khu trục Ma-đốc đã xâm phạm vùng biển Quảng Bình, sau đó tiến lên phía Bắc, điều tra các mạng lưới bố phòng của ta ở khu vực đèo Ngang, Hòn Mát, Hòn Mê, Lạch Trường. Đối phó với các hành động khiêu khích phá hoại ngày càng tăng của Mỹ - ngụy, Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân quyết định thành lập sở chỉ huy tiền phương ở sông Gianh. Một số tàu tuần tiễu ở phía bắc được tăng cường. Các tàu phóng lôi ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao…”.
Bài học nổi bật của truyền thống 45 năm trước là tinh thần “dám đánh, quyết đánh và quyết thắng” của quân và dân ta nói chung, Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại tá Nguyễn Xuân Bột, Nguyên chỉ huy trưởng Phân đội 3, Tiểu đoàn 135, thuyền trưởng tàu hải quân 333 nhớ lại: “Không thể quên buổi chiều 2-8, Phân đội tôi phát hiện một tàu lạ ở phía nam Hòn Mê. Sau khi nghe tôi báo cáo, đúng 14 giờ 30 phút, Sở chỉ huy tiền phương ra lệnh Phân đội 3 xuất kích! Cả phân đội nhổ neo lên đường. Phát hiện thấy tàu hải quân của ta, tàu Ma-đốc tăng tốc chạy về hướng cửa Ba Lạt, vừa chạy vừa bắn đạn pháo về phía tàu ta. Tôi ra lệnh cho tàu 333 tăng tốc để chặn tàu địch, tạo điều kiện thuận lợi cho hai tàu 336 và 339 tấn công.
Lúc này trên trời bất ngờ xuất hiện 5 máy bay địch tập kích và bắn trúng khoang máy chính của tàu 339, tàu phải thả trôi vừa tập trung dập lửa, sửa chữa hỏng hóc vừa ngoan cường đánh trả bằng súng 14,5mm và súng trung liên. Bốn quả ngư lôi của tàu 339 và 336 phóng đi đều không tiếp cận được mục tiêu. Pháo trên tàu Ma-đốc vẫn bắn cấp tập vào đội hình Phân đội 3 và một quả đã rơi trúng vào tàu 336.
Thuyền trưởng Phạm Văn Tự trúng đạn hy sinh, thuyền phó Nguyễn Văn Chuẩn mặc dù bị thương vẫn chỉ huy điều khiển tàu. Lúc này tàu 333 dù bị pháo địch bắn hỏng quả ngư lôi trái, buộc phải giật trôi xuống biển, nhưng vẫn mở hết tốc lực tiếp cận tàu địch. Khi khoảng cách giữa hai tàu chỉ còn dưới nửa hải lý... tôi ấn nút phóng ngư lôi. Quả ngư lôi xé mặt biển lướt đi. Cả tàu gần như ngừng thở. Mấy phút sau, một tiếng nổ phát ra từ tàu Ma-đốc, anh em chúng tôi đồng thanh hô vang: Nó trúng đạn rồi... Lúc ấy là 17 giờ ngày 2-8-1964”.
Quân cảng Đoàn M70 Hải quân – nơi diễn ra chương trình giao lưu tại Quảng Ninh đêm 3-8 – cách địa điểm chiếc máy bay đầu tiên của không quân Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời miền Bắc không xa.
Cựu chiến binh Phạm Đình Giang, nguyên chiến sĩ Đại đội 7 – đảo Cô Tô, thuộc Tiểu đoàn 173 Hải quân kể lại chiến công bắt sống viên phi công Mỹ - Everett Alvarez trên vùng biển Bắc Bộ chiều 5-8-1964 kể lại: “Hôm đó tôi đang lái thuyền (thuyền nhỏ chạy bằng buồm và chèo) chở lương thực từ đất liền về đơn vị. Cùng đi trên thuyền có Binh nhì Lồ Giảo Quay và Thượng sĩ Nguyễn Kim Bảo. Thuyền ra khỏi cảng Hòn Gai không xa thì chúng tôi phát hiện một máy bay cháy lao thẳng xuống biển và một chiếc dù đang rơi cách thuyền khoảng 1 hải lý. Khẳng định chắc chắn đó là phi công Mỹ trên chiếc máy bay vừa bị bắn rơi, chúng tôi lập tức hướng mũi thuyền về phía tên phi công nhảy dù, ra sức chèo.
Khi còn cách tên phi công khoảng 30m, tôi cầm súng đứng ở mũi thuyền và ra hiệu cho tên phi công giơ tay hàng. Do phải bám vào phao cứu sinh nên viên phi công chỉ giơ được có một tay lên hàng. Chúng tôi cùng kéo tên phi công lên thuyền. Sau này tôi được biết, chiếc máy bay của Everett Alvarez đã bị những viên đạn súng máy phòng không 14,5mm của Đại đội 141 do Trung đội phó Trương Thanh Luyện chỉ huy bắn trúng lúc 14 giờ 43 phút, ngày 5-8-1964. Đây cũng là chiếc máy bay đầu tiên của không quân Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời miền Bắc”.
Họ đã sống và chiến đấu như thế...
Đêm thu, quân cảng Đà Nẵng lộng gió. Rất đông cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương về dự đêm giao lưu “Âm vang đánh thắng trận đầu”.
Màn hát múa “Tổ quốc và người lính biển” như tái hiện hào khí một thời... những người lính âm thầm lặng lẽ ra đi... Phía trước là bão tố chông gai, là bom rơi đạn nổ và mất mát hy sinh, phía sau là tiếng gọi quê hương đất nước. Không ít người trong số họ vĩnh viễn nằm lại trên các chiến trường sông, biển. Sự hy sinh ấy đã làm nên âm vang chiến thắng trận đầu và huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển...
Đêm giao lưu với các nhân chứng đầy xúc động. Trung tá Đồng Xuân Tứ (nguyên trắc thủ ra-đa tàu 146, Phân đội 3 tàu tuần tiễu-Khu tuần phòng 1) kể lại thời khắc lịch sử đầy bi tráng khi ông cùng đồng đội được Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ xua đuổi tàu biệt kích ở Hòn Mê đêm 31-7-1964, tham gia hộ tống chi viện tàu phóng lôi ngày 2-8-1964 và bắn máy địch. Câu chuyện ông kể khiến mọi người cảm động: “Hôm ấy, máy bay Mỹ điên cuồng bắn phá. Hai đồng chí Nguyễn Viết Nghĩa và Nguyễn Văn Hòa trúng pháo địch, anh dũng hy sinh. Pháo thủ Đặng Đình Lống gãy chân nhưng vẫn ngoan cường chiến đấu, anh yêu cầu đồng đội: “Các đồng chí hãy buộc tôi vào pháo”. Rồi anh hiên ngang nã đạn vào kẻ thù cho đến lúc ngã xuống. Không hề nao núng tinh thần, chiến sĩ hàng hải Trần Viết Ý tuy bị thương nặng vẫn một tay ôm ngực, tay còn lại điều khiển vô lăng tàu. Pháo thủ Nguyễn Văn Sát dù đạn địch găm vào phổi, Nguyễn Văn Quang cụt cánh tay, Ngô Huy Hoàng gãy một bên chân nhưng không rời vị trí... Trận chiến đấu ấy, 8 đồng đội tôi hy sinh khi tuổi đời rất trẻ. Nguyễn Văn Hòa trước ngày xuất trận còn khoe vừa nhận thư cô bạn học... Chưa kịp hồi âm anh đã ra đi mãi mãi. Hôm ấy trong vòng tay tôi, toàn thân Hòa đẫm máu, giọng đứt quãng: “Tứ ơi... ở lại cùng đồng đội...kiên cường bám trụ... tao đi đây!...”. Trước đó một tháng, trên quân cảng Vạn Hoa, Nguyễn Viết Nghĩa cũng căn dặn tôi: “Nếu tao có mệnh hệ gì thì mày nhớ về gặp mẹ và đứa em trai của tao nhé! Nhà tao gần bệnh viện Việt Nam-Cu Ba...”.
Ông Nguyễn Văn Luyện (nguyên chiến sĩ ra-đa tàu 333 trực tiếp tham gia đánh đuổi tàu Ma-đốc) bồi hồi nhớ lại: “Ngày ấy, vẫn biết nhiệm vụ gay go, ác liệt, nhưng chúng tôi vào trận với ý chí quyết tâm đánh địch rất cao. Ai cũng phấn khởi vì được Quân chủng tin tưởng giao nhiệm vụ đánh trận. Tình yêu Tổ quốc và niềm tin tưởng vào hậu phương đã tiếp thêm ý chí, nghị lực và sức mạnh cho chúng tôi trước giờ xung trận!”.
Binh nhất Đặng Đình Thành (cháu nội của Anh hùng LLVT nhân dân-liệt sĩ Đặng Đình Lống), học viên Phân đội 3, Học viện Hải quân trả lời khá chững chạc: “Vì chủ quyền biển, đảo mà ông nội tôi và biết bao anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống, thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay phải có trách nhiệm kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang ấy! Chính vì lẽ đó tôi đã chọn cho mình con đường binh nghiệp!”.
Giao lưu cùng khán giả, Phó đô đốc Đỗ Xuân Công (nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân-người đã trực tiếp tham gia đánh thắng trận đầu tại cửa Gianh ngày 5-8-1964) khẳng định: “Bài học kinh nghiệm đánh thắng trận đầu của quân và dân ta có ý nghĩa sâu sắc, được vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến thắng ấy là hệ quả tất yếu việc quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xây dựng ý chí, quyết tâm cao. Chiến thắng trận đầu đã nêu cao tinh thần đoàn kết toàn dân đánh giặc, phát huy tính hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng; chủ động nắm chắc thời cơ, phương án tác chiến và vũ khí trang bị; chỉ huy kiên quyết, sáng tạo... bảo đảm chiến đấu thắng lợi trên chiến trường sông, biển...
Bảo vệ, gìn giữ và phát huy truyền thống hào hùng của Quân chủng là nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của những người lính biển hôm nay. Chuẩn đô đốc Nguyễn Cộng Hòa, Phó chính ủy quân chủng Hải quân (nguyên Chính ủy Đoàn M72) nêu rõ, việc vận dụng bài học kinh nghiệm chiến thắng trận đầu vào thực tiễn hiện nay là coi trọng xây dựng yếu tố chính trị tinh thần, cốt lõi là tư tưởng “dám đánh, quyết đánh và đánh thắng kẻ thù xâm lược”. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết TW4 (Khoá 10) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trước mắt tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, nắm chắc tình hình, thực hiện đúng đối sách, giữ vững môi trường hòa bình trên biển, đảo; luyện tập thuần thục các phương án chiến đấu, thấm nhuần tư tưởng “đã ra quân là đánh thắng”.
Đại tá Trần Xuân Thành, Chính ủy Đoàn M72 bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc công lao của các thế hệ cha anh, nhận rõ niềm vinh dự, tự hào khi được gánh vác trọng trách viết tiếp trang sử truyền thống vẻ vang của đơn vị đánh thắng trận đầu. Theo đồng chí Chính ủy, việc bồi dưỡng nhân tố con người phải được chú trọng ở tất cả mọi cấp, mọi ngành, mọi người, đặc biệt là giáo dục nâng cao nhận thức, kiến thức toàn diện cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ để họ vững vàng niềm tin, lòng tự hào phát huy truyền thống.
Non nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng âm vang của chiến thắng trận đầu vẫn còn in đậm trong lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Việt Nam. Những câu chuyện cảm động của các nhân chứng kể về chặng đường hào hùng, oanh liệt năm xưa như muốn kéo dài mãi. Đêm bán đảo trào dâng niềm cảm xúc trân trọng thành quả của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ - những người đã làm nên bao chiến công huyền thoại, mãi mãi là minh chứng hùng hồn khẳng định lời thề với cha ông, lời nhắn gửi tới thế hệ hôm nay và mai sau về bài ca dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Bài và ảnh: PHÚ SƠN-TIẾN DŨNG