Chính phủ vừa ban hành Nghị định 127 ngày 12-12-2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Quy định có hiệu lực từ ngày 1-1-2009, các doanh nghiệp và người lao động sẽ cùng đóng BHTN. Đây là một bước tiến mới trong bảo đảm các vấn đề an sinh xã hội, tuy nhiên trong dư luận và nhất là với người lao động thì vẫn còn không ít băn khoăn.

Chính sách đúng đắn

Có thể khẳng định Nghị định 127 ra đời đã thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với các vấn đề xã hội, đó cũng là cách làm phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Mỗi năm nước ta có hơn một triệu người bước vào độ tuổi lao động, tuy nhiên việc giải quyết việc làm cho số lao động này và số lao động thất nghiệp lũy tích hằng năm lại là vấn đề rất khó khăn. Ông Phạm Đỗ Nhật Tân, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội - Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết, khả năng thu hút lao động của nền kinh tế nước ta có hạn, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, một bộ phận lao động mất việc làm, đời sống rất khó khăn, ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Vì thế BHTN phải là quy định bắt buộc, rất cần thiết đối với người lao động trong cơ chế thị trường hiện nay. Tình trạng mất việc làm của người lao động sẽ căng thẳng hơn trong thời gian tới, BHTN sẽ là một giải pháp cứu cánh, là chỗ dựa cho người mất việc làm.

Sản xuất linh kiện xe máy ở Công ty Honda VietNam. Ảnh: Lê Thiết Hùng

Quy định sẽ được áp dụng đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động sau: Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng; hợp đồng lao động không xác định thời hạn; hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng; hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước trước ngày 10-10-2003. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động có sử dụng từ mười người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang sẽ phải thực hiện quy định này.

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ do người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công hằng tháng; người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương, tiền công; hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần. Đồng thời cộng với tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và các nguồn thu hợp pháp khác. Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và tổng thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng.

Cần hiểu và làm đúng

Chính sách đề ra rất tốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay bảo hiểm xã hội cũng còn phải chạy theo doanh nghiệp để đòi quyền lợi cho người lao động, tình trạng trốn, nợ bảo hiểm xã hội vẫn là vấn đề nhức nhối thì việc thực hiện BHTN cũng sẽ không đơn giản. Trong thời hạn ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của doanh nghiệp và của người lao động cho tổ chức Bảo hiểm xã hội. Đối với người lao động, trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc phải đến cơ quan lao động để đăng ký. Thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng, người thất nghiệp phải đến thông báo với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làm. Như vậy có thể thấy thủ tục và cách thực hiện của BHTN vẫn còn khá phức tạp, rườm rà, nhất là đối với người lao động.

Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế Hà Nội, việc đóng bảo hiểm xã hội ở nhiều đơn vị, kể cả cơ quan Nhà nước hiện nay vẫn đang nợ hàng trăm tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế, dù mức đóng 1% tiền lương không phải là cao, nhưng trong thời điểm khó khăn, quỹ lương chịu nhiều sức ép, doanh nghiệp vẫn có thể sẽ tìm cách trốn tránh. Còn đối với người lao động ở nhiều đơn vị, do mức lương thấp nên vì cái lợi trước mắt họ có thể sẵn sàng thỏa hiệp với doanh nghiệp để tìm cách hoãn hoặc trốn đóng BHTN. Họ không hiểu BHTN là hình thức lương trả chậm, mức đóng cao thì hưởng cao, đóng thấp thì hưởng thấp. Lúc nghỉ hưu hay mất việc, người lao động mới thấy được lợi ích của nó khi được hưởng chế độ hỗ trợ.

Muốn thực hiện tốt BHTN, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của ba cơ quan Liên đoàn lao động, Lao động-Thương binh và Xã hội cùng Bảo hiểm xã hội. Trong đó, vai trò giám sát của công đoàn cơ sở sẽ rất quan trọng. Nếu các doanh nghiệp cố tình chây ì không trả, dựa trên các cơ sở pháp lý, các quy định pháp luật, bảo hiểm xã hội hoàn toàn có thể kiện ra tòa. Một số doanh nghiệp cho rằng, trong thời điểm khó khăn tài chính hiện nay Chính phủ nên trì hoãn thực hiện quy định tới quý II năm 2009. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế lại nhận định BHTN chính là hình thức hỗ trợ doanh nghiệp rất nhiều, đặc biệt khi doanh nghiệp gặp khó khăn. Thực tế nếu không đóng BHTN, khi sa thải người lao động, doanh nghiệp còn phải trả nhiều chi phí hơn là đóng BHTN. Hơn nữa việc sử dụng càng nhiều lao động sẽ càng mất nhiều chi phí cho bảo hiểm khiến doanh nghiệp cần phải có một chính sách sử dụng nguồn nhân lực rất hiệu quả.

Rõ ràng, chính sách đưa ra là hợp lý và có ý nghĩa thiết thực. Điều quan trọng là sau đó chúng ta cần nâng cao nhận thức cho người sử dụng lao động về trách nhiệm của họ. Tuyên truyền để người lao động biết tự bảo vệ quyền lợi của mình, bằng cách yêu cầu giới chủ thực hiện đúng theo quy định. Đồng thời phải tăng cường các hoạt động thanh tra, giám sát các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định này.

TRƯỜNG GIANG