Tôi viết những dòng này như thắp một nén nhang để tưởng nhớ, tạ lỗi tới người cha yêu quý đã khuất; Và quý tặng đồng đội cũ của tôi.
Tháng 3 - 1975 trước hồ sơ đăng ký thi đại học, tôi băn khoăn do dự không biết nên ghi nguyện vọng thi vào trường nào... Tuổi trẻ vẫn giàu mơ ước, trước mắt tôi viễn cảnh của một tương lai xán lạn được vạch ra, tôi ước mơ làm bác sĩ với mong muốn được chữa bệnh cứu người và trước tiên là chữa bệnh cho người thân trong gia đình mình. Mẹ tôi chết vì đau ruột thừa do không cứu chữa kịp thời còn ám ảnh tôi. Mới 6 tuổi tôi phải buộc khăn trắng lên đầu để tang mẹ.
Tôi thường ngồi trong đêm khuya thanh vắng, ngọn đèn dầu nhỏ nhoi như ước mơ bé nhỏ nhen nhóm trong lòng. Bỗng một hôm có tiếng nấc trong đêm, tiếng khóc nghẹn ngào, đau đớn vọng vào đêm khuya, tôi chạy ra sân sững sờ trong đêm vắng. Tiếng khóc của o Từ; o Đào. O Từ vừa lấy chồng được mấy hôm thì chú Châu trả phép trở lại đơn vị, và... và chiều nay xã tổ chức lễ truy điệu. O Đào cũng vậy, chồng o chết khi o còn trẻ, o không tái giá mà thờ chồng, nuôi con. Vậy mà nay chị Hồng, chị Hoa con của o lại hy sinh ở chiến trường, o khóc nhiều đêm đến mờ hai mắt.
Làng quê tôi bom đạn cày xới, mất mát quá nhiều trong chiến tranh. Tôi đứng lặng trong đêm, đã một giờ sáng thay vì ghi nguyện vọng vào hồ sơ thi đại học, tôi đã làm một việc không có ý kiến của gia đình: Viết đơn tình nguyện nhập ngũ và tự an ủi về học sau”.
Đất nước giải phóng, trong niềm vui chung của dân tộc, chúng tôi được huấn luyện, học chính trị và chuyển sang làm nhiệm vụ: Xây dựng kinh tế và bảo vệ Tổ quốc. Tôi buồn chán vô cùng, ước mơ vào bộ đội để được vào chiến trường, để được đánh trận như một bậc nam nhi, hoặc ít ra là làm y tá, thông tin, ai ngờ phải vác cuốc chim lên miền tây Nghệ An với nhiệm vụ mở đường rừng cho lâm nghiệp khai thác gỗ. Đã thế, gặp những chiếc xe quân sự chạy ngược chiều chở bộ đội họ hớn hở tay vẫy, nói giọng miền Bắc đùa chúng tôi:
- Thím ơi, hòa bình rồi, về lấy chồng thôi.
Chưa hết, lúc dừng chân nghỉ đêm trong dân, các cô thôn nữ thì thầm rúc rích “Các o, các chú bộ đội xóm, không mang súng lại mang cuốc chim. Hí…”.
Hành quân theo đội hình, tôi không quen đi giày ba-ta, không quen hành quân khoác ba lô, mọi khó khăn, thử thách ập đến: Gót chân trầy da rát bỏng, vai tê dại, ngực đau tức, đêm không tài nào ngủ được. Tôi buồn, chán nản và nước mắt cứ trào ra.
Điểm tập kết và dừng chân là một khu rừng rậm. Bản Cao Vều, một bản hẻo lánh ở miền Tây, thuộc huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, dân bản thưa thớt, rừng âm u, bạt ngàn cây cối. Chúng tôi khẩn trương chặt cây, làm lán trại… ổn định cuộc sống ban đầu nơi đóng quân. Mỗi cân gạo, mỗi hạt muối vượt qua hàng chục ki-lô-mét đường rừng về đây đều thấm mồ hôi và nước mắt của người chiến sĩ. Trung đoàn I, thuộc Bộ CHQS tỉnh Nghệ An, được thành lập năm 1975 có 11 đại đội, trong đó có 3 đại đội nữ, mọi việc từ đục kèo dựng nhà, đục lỗ mìn, phá đá, nhồi bộc phá, châm ngòi nổ mìn… Con gái chúng tôi đảm nhiệm hết. Đêm được về ngủ lán. Lán là chỗ che nắng che mưa, giường là những cây xoan rừng được đẵn thành từng khúc chôn xuống đất, khúc ngang khúc dọc gác, buộc vào nhau, ống nứa đập ra kết thành giát giường. Năm, sáu người ngủ chung một giường, giường vừa là nơi nghỉ lưng, nơi kê ba lô để viết thư, viết nhật ký, vừa là sân khấu để tiểu đội biểu diễn văn nghệ.
Kỷ niệm những ngày trong quân ngũ theo tôi đi khắp mọi nẻo đường. Nhớ khi đi ngủ chúng tôi chuyện trò râm ran, con gái nhiều chuyện để giãi bày tâm sự. Hôm đó, o Cần nhận được thư nhà, vậy mà tối về im thin thít. Mưa rừng ào ào giội lộp bộp mái nhà lợp bằng nứa. Mọi người lặng im như đếm từng giọt mưa rơi. Bỗng Cần ghé vào tai tôi thầm thì: “Mai ơi! Mai đã có người yêu chưa?”. Tôi chưa kịp trả lời thì o Hà lên tiếng:
- Cái Lưu có người yêu rồi đấy, là lính đặc công hẳn hoi nhé, đêm về ngủ mơ, vung tay một cái thì Lưu gẫy mấy răng.
Tiếng cười rúc rích, tiếng người khác xen vào:
- Cái Tuân bị người yêu… vì “nó” nghi ngờ “con gái bộ đội như gái công trường, như rương không khóa”…
Ôi dào… tiếng thở dài, tiếng bình luận, tiếng thách đố… ầm ĩ trong đêm. Bỗng có tiếng khóc thút thít, mọi người im bặt. Cái Nhật ghé tai tôi:
- Chiều nay Tâm nhận thư em gái, cũng báo tin người yêu không chờ đợi và lấy người khác, nó buồn lắm…
Tiểu đội tôi, một người, hai người… lúc đầu thì nói, cười rồi ôm nhau khóc. Lạ chưa? Mưa vẫn ào ào rơi. Một phút bối rối, rồi tôi dõng dạc nói: “Cả tiểu đội nằm nghiêm, ngủ. Ngày mai lên mặt đường.”. Tiếng thút thít im dần. Tiếng cười rúc rích. Tiếng nói rì rầm. Tiếng đấm lưng thùm thụp. Tiếng cười tiếng khóc xen lẫn, ngoài kia trời đã tạnh mưa, tiếng chim “bắt cô trói cột”, “khó khăn khắc phục” thong thả ném vào đêm.
Rất lâu, khi mọi người ngủ yên, tôi nhẹ nhàng đi xuống nhà bếp châm ngọn đèn dầu viết thư cho bố. Lá thư ôn nghèo kể khổ, lâm ly thống thiết mà đến bây giờ tôi còn ân hận. Gửi thư đi rồi tôi khấp khởi chờ trông với hy vọng mỏng manh: ông sẽ xin cho tôi về cơ quan ông công tác… bởi vì ông là Trưởng phòng Tổ chức của một cơ quan kinh tế của tỉnh nhà. Rồi ngày nhận thư ông đã tới. Sau những câu đầu, ông viết: “… Bố hiểu nỗi vất vả của con nhưng có thấm vào đâu so với sự hy sinh, mất mát của bao người khác. Quân đội là một trường học lớn, con cần phải cố gắng, rèn luyện, yên tâm nhiều hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ. Mai ạ! Con kể về con đường chưa kịp đặt tên, con đường đó bố đã đi qua. Ngày đó đường là một lối nhỏ trong rừng, giặc lùng ráo riết, các chiến sĩ cách mạng phải sống len lỏi trong rừng sâu, phải ăn củ mài để sống, để gây dựng cơ sở cách mạng. Ở đó có chị Hường, người nữ giao liên rất dũng cảm thường tiếp tế lương thực, làm liên lạc cho cơ sở của bố. (À mẹ Hường - tôi reo lên, ngôi nhà của mẹ trung đoàn trưởng đang ở tạm khi nhà chỉ huy làm chưa xong). Tôi đọc tiếp thư ông: “Con đang đi trên con đường bố đã đi. Hai thời kỳ cách mạng, hai thế hệ tuổi trẻ, một con đường, hai bố con mình đều bước… cố gắng lên con nhé!”. Ông còn dặn thêm: “Con nhớ giữ gìn sức khỏe, bố rất thương con và tin tưởng ở con. Bố của con: Lê Văn Thuận”.
Tôi gấp lá thư lại mà lòng bồi hồi khó tả. Tôi nghĩ về ông: Người chiến sĩ trung kiên trong kháng chiến chống Pháp, người cán bộ mẫu mực, liêm khiết có mặt nơi hiểm nguy để lo từng chuyến hàng ra tiền tuyến trong kháng chiến chống Mỹ. Trong một lần cứu xe gạo vận chuyển vào Nam bị bom đánh phá, ông bị thương nặng ở phà Hoàng Mai (Quỳnh Lưu, Nghệ An)… Tôi ân hận vì đã làm cho ông lo lắng. Nhiều đêm tôi nói với ông trong tâm tưởng “Bố ơi, con đang đi trên con đường bố đã đi… Trong người con mang dòng máu đỏ của bố, đó là niềm tự hào an ủi riêng con…”. Lá thư của ông đã tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho tôi. Con đường đồng đội tôi đang mở ngày một rộng dài hơn, nó đẹp như dải lụa đào vắt giữa rừng xanh mênh mông. Rừng Cao Vều rì rào gọi gió, suối Giăng róc rách ru mãi bài ca muôn thuở, tôi cảm thấy thiết tha trân trọng hơn những ngày mình đang sống.
LÊ THỊ MAI (Nguyên chiến sĩ Trung đoàn I, Bộ CHQS tỉnh Nghệ An)