Trong nghĩa trang liệt sĩ Ba Dốc, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có một ngôi mộ liệt sĩ mang tên Lê Trung. Ít người biết rằng, đây là một người Nhật đã từng đứng trong hàng ngũ Việt Minh, chiến đấu vì độc lập cho người dân Việt Nam và đã anh dũng hy sinh…

Các cụ ông, cụ bà tuổi ngoài 70 ở Bảo Ninh, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình kể lại rằng: Một đêm đầu tháng 8-1945, có một chiếc ca nô chạy rất nhanh từ ngoài khơi đâm nhào vào bãi cát ven biển Nhật Lệ của xã Trường Sa (tên gọi của xã Bảo Ninh thuở đó). Lực lượng tự vệ do Chủ tịch Việt Minh xã là Phạm Khuôn Tương chỉ huy đã kịp thời có mặt tại nơi chiếc ca nô cặp bờ và “bắt” được 7 người Nhật. Mặc dù mang theo rất nhiều vũ khí, nhưng những người này không hề chống cự, tự giác giao nộp vũ khí cho lực lượng tự vệ.

Cụ Nguyễn Tú, nguyên cán bộ tiền khởi nghĩa, cư trú ở phường Đồng Sơn, TP Đồng Hới kể lại:

- Thời gian đó, tôi là cán bộ tổ chức và chỉ huy đội tự vệ chiến đấu chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Đồng Hới. Được tin xã Trường Sa bắt được một tiểu đội lính Nhật, tôi lập tức dẫn theo một phiên dịch đến gặp. Thì ra 7 người trên ca nô là lính Nhật phản chiến. Trên đường chuyển quân, họ đã cướp ca nô từ tàu thủy, tìm đến đầu hàng Việt Minh, đợi hòa bình sẽ trở lại với tổ quốc Phù Tang của mình.

Trong số 7 người lính Nhật phản chiến, có 2 sĩ quan biết nói tiếng Việt. Để dễ gọi tên, các cụ Đồ nho trong làng đặt tên cho họ là Ngọ và Mùi. “Ngọ” là mặt trời đỉnh điểm (12 giờ trưa). “Mùi” là mặt trời đã xế (khoảng 13 giờ).

Cũng chính những ngày này, tỉnh Quảng Bình đang gấp rút chuẩn bị lực lượng để cướp chính quyền. Ông “Ngọ” là sĩ quan bộ binh, được giao nhiệm vụ dạy võ thuật cho anh em tự vệ. Ông “Mùi” là bác sĩ nên được giao nhiệm vụ điều trị, chữa bệnh cho bà con và các chiến sĩ. Năm người lính Nhật còn lại là những huấn luyện viên, chuyên lo các yếu lĩnh, đội hình, đội ngũ cho tự vệ, dân quân… Ngày 23-8-1945, cách mạng giành chính quyền đã nổ ra ở tỉnh lỵ Quảng Bình. Những người lính Nhật phản chiến đã đứng trong đội ngũ Việt Minh Quảng Bình đi thị uy và chiếm giữ các trụ sở của Nhật và tay sai.

Đầu năm 1946, giặc Pháp trở mặt, gây hấn ở Nam Bộ. Những người lính Nhật phản chiến đã tình nguyện tham gia vào đoàn quân “Nam tiến” - đứng trong đội ngũ những người lính của nước Việt Nam đi bảo vệ độc lập của đất nước - lên tàu tại nhà ga Thuận Lý, để vào Nam chiến đấu. Riêng ông “Mùi” - một bác sĩ quân y giỏi - được đồng chí Hoàng Văn Diệm, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Quảng Bình giữ lại và bổ sung vào hàng ngũ cán bộ Việt Minh. Sau này, chính đồng chí Hoàng Văn Diệm đã đặt một cái tên Việt Nam cho ông “Mùi” với đầy đủ họ và tên là Lê Trung để làm hồ sơ cán bộ.

Trong suốt một thời gian dài, trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề nhưng ông Lê Trung vẫn đồng cam cộng khổ với mọi người để làm việc. Ông đã cứu sống nhiều thương binh và người dân mang bệnh hiểm nghèo.

Cuối năm 1946, bác sĩ Lê Trung lại có mặt trong đoàn quân tình nguyện thuộc trung đoàn 101, Sư đoàn 325, chiến đấu ở mặt trận Ba-na-phào (Lào). Ông cứu chữa cho các thương binh với tất cả lương tâm trong sáng, tận tụy của người thầy thuốc. Có lần, ông đã cõng trên vai một chiến sĩ bị thương nặng suốt 4 ngày đêm, vượt đường dốc, rừng sâu từ Pu-tu-ru để về Ba-na-phào cứu chữa. Hành động nhân đạo và tận tụy, đầy trách nhiệm của người bác sĩ ngoại quốc đã làm xao động trái tim một cô gái tuổi 26 tên là Hoàng Thị Kim Huê, người phụ trách công tác úy lạo và tiếp vận, kiêm y tá của mặt trận. Năm 1948, hai người tổ chức lễ cưới ngay trên đất nước triệu voi. Cưới nhau chưa tròn năm thì bác sĩ Lê Trung mắc chứng bệnh viêm tiết niệu cấp. Trong kháng chiến, nơi mặt trận xa xôi, thiếu thuốc men, thiếu người phẫu thuật, sau 3 ngày đau vật vã, ngày 01-10-1948, Lê Trung đã trút hơi thở cuối cùng tại mặt trận Pa-na-phào trên đất nước Lào.

Lúc này, vợ ông là bà Hoàng Thị Kim Huê đang có thai 3 tháng. Sau khi chồng mất, bà Hoàng Thị Kim Huê được điều về làm việc tại bệnh viện Đồng Lào thuộc huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình). Tại đây, bà sinh con gái, giọt máu Việt-Nhật. Bà lấy họ chồng, họ mình và chữ đầu của huyện nơi bà sinh nở để đặt tên cho con đó là: Lê Hoàng Tuyên. Đơn vị cũng đã dời mộ của bác sĩ Lê Trung về Tổ quốc, an táng tại Tuyên Hóa theo đề nghị của mẹ con bà Hoàng Thị Kim Huê.

Hòa bình (1954) bà Huê được cử đi học trường Nguyễn Ái Quốc và về làm Phó chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh Quảng Bình. Năm 1960, bà tái hôn với đồng chí Trần Đồng, Bí thư khu ủy Vĩnh Linh rồi về làm Phó ty Y tế đặc khu Vĩnh Linh. Con gái duy nhất của bà, chị Lê Hồng Tuyên, được Nhà nước chăm lo giáo dục, sau đó cử đi học Đại học tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Về nước, chị Lê Hoàng Tuyên được phân công làm việc tại Viện quy hoạch Bộ Xây dựng. Mấy năm sau, chị bị mắc một chứng bệnh hiểm nghèo và qua đời tại Hà Nội.

Sau ngày đất nước thống nhất (1975), bà Hoàng Thị Kim Huê đã viết đơn đề nghị Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam tìm kiếm quê hương, họ hàng thân thích chồng bà là bác sĩ Lê Trung. Nhưng mãi vẫn chưa có kết quả.

Do những định kiến hẹp hòi của một số người làm công tác tổ chức thời bấy giờ nên ông Lê Trung sau gần 50 năm hy sinh vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ trong sự nghiệp giải phóng Tổ quốc Việt Nam. Do vậy, bà Hoàng Thị Kim Huê vượt qua bao nhiêu vất vả, đã gặp các thủ trưởng cũ của chồng mình như ông Đồng Sỹ Nguyên, ông Hoàng Văn Diệm, ông Phan Khắc Hy... để xin chữ ký và những lời yêu cầu. Mãi đến ngày 22-8-1997, bác sĩ quá cố Lê Trung mới được công nhận là liệt sĩ. Và ngày 15-12-1997, hài cốt bác sĩ Lê Trung đã được đồng đội, người thân đưa về cải táng tại nghĩa trang liệt sĩ Ba Dốc. Đó là liệt sĩ người nước ngoài đầu tiên được an nghỉ tại đây.

Bà Hoàng Thị Kim Huê đã qua đời năm 1999 do bệnh xuất huyết não. Bà đã mãn nguyện bởi một việc làm thiêng liêng và đầy ý nghĩa với người chồng quốc tịch Nhật của mình. Trước khi qua đời, bà Huê chỉ có một trăn trở. Đó là ngoài chồng bà, 6 người lính Nhật phản chiến năm xưa trên đất Bảo Ninh-Đồng Hới giờ đang ở đâu, ai còn, ai mất?

HỒ NGỌC DIỆP