Sau chiến dịch giải phóng hoàn toàn cao nguyên Bô-lô-ven (5-1971), tiểu đoàn 84 quân tình nguyện chúng tôi xây dựng hậu cứ tại huyện Lào Ngam thuộc tỉnh Xa-ra-van. Đây là vùng căn cứ cách mạng nổi tiếng ở Nam Lào trong suốt hai cuộc kháng chiến của nước bạn.

Hậu cứ của đại đội chúng tôi đặt tại bản PhNuôn, cách trung tâm huyện Lào Ngam khoảng 3 giờ đi bộ. Mỗi khi có dịp về huyện công tác, chúng tôi thường nghỉ chân tại nhà một người quen là vợ chồng anh Khăm Thon và chị Bun Mi. Năm đó, anh Khăm Thon khoảng 30 tuổi, là đại đội trưởng một đơn vị thuộc tỉnh đội tỉnh Xa-ra-van; còn chị Bun Mi 26 tuổi, là y sĩ trạm xá huyện Lào Ngam. Anh chị có hai con, cháu trai 4 tuổi và cháu gái 2 tuổi. Anh chị có một tình yêu rất đẹp mà chúng tôi đều biết: Năm 1967, sau khi anh Khăm Thon tốt nghiệp trường Sĩ quan ở Sơn Tây và chị Bun Mi kết thúc khóa đào tạo y sĩ ở Thái Bình, họ có mặt trong đoàn cán bộ quân chính từ Việt Nam về nước. Đến Thanh Hóa thì anh bị ốm, chị là người chăm sóc, điều trị cho anh và tình yêu giữa hai người nảy nở, một năm sau họ làm lễ cưới. Kỷ niệm và tình yêu đẹp trên đất Việt như thế, nên con trai đầu của anh chị có thêm tên Việt là Thái (Thái Bình) và cháu thứ hai có thêm tên là Thanh (Thanh Hóa).

Cả anh và chị đều dành cho chúng tôi những tình cảm hết sức thân ái, chân thành như đối với những đứa em ruột thịt, khiến chúng tôi thấy gần gũi, ấm cúng như đây là gia đình, quê hương mình. Mỗi lần ghé thăm anh chị và các cháu, chúng tôi không chỉ được nghe anh chị nói chuyện bằng tiếng Việt mà còn được ăn những món ăn Việt Nam do chính tay chị Bun Mi nấu. Dịp ấy, nơi đơn vị chúng tôi đứng chân, rắn độc nhiều vô kể. Có lần một chiến sĩ trong đại đội trên đường đi công tác không may bị rắn độc cắn, khi đưa đến trạm xá thì da đã tím tái. Chị Bun Mi sau khi xem xét, đã dùng một loại hạt quả rừng để hút nọc rắn ra và người chiến sĩ đó đã được cứu sống. Sau đó, chị còn đưa chúng tôi đi lấy loại hạt quả đó để làm thuốc dự phòng. Từ đó chúng tôi luôn mang theo bên người, nên không sợ rắn độc nữa.

Tháng 3-1976, chúng tôi lên đường về nước. Trong buổi chia tay đầy xúc động và lưu luyến có cả anh Khăm Thon và chị Bun Mi. Mọi người đều không cầm được nước mắt. Lào Ngam, không biết tự khi nào, đã thực sự trở thành quê hương thứ hai của những chiến sĩ quân tình nguyện chúng tôi. Theo tiếng Lào, "ngam" có nghĩa là đẹp. Lào Ngam luôn là dấu ấn đẹp nhất khi chúng tôi nhớ đất nước Lào tươi đẹp cùng những người dân Lào nhân ái, trọng nghĩa tình, yêu tự do.

Hơn 30 năm đã trôi qua nhưng mỗi khi cầm trên tay tấm Kỷ niệm chương Quân tình nguyện Việt Nam trong đó có hình hai lá quốc kỳ Việt Nam và Lào, chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào về những năm tháng từng được sống, chiến đấu trong tình hữu nghị đặc biệt trong sáng, thủy chung. Trong trái tim chúng tôi đã và mãi mãi có một Lào Ngam gần gũi và thân thiết.

LÊ AN KHÁNH