Các đại biểu tham dự Hội nghị

QĐND Online-“Hội nghị Khoa học Ký sinh trùng đã diễn ra liên tục trong suốt 35 năm qua. Điều đó cho thấy, lĩnh vực ký sinh trùng có ý nghĩa hết sức to lớn không những đối với ngành y mà còn với sức khoẻ của mỗi người dân…”,
đó là lời chia sẻ của PSG.TS Hoàng Tân Trân trong Hội nghị Khoa học Ký sinh trùng toàn quốc lần thứ 35 vừa được tổ chức tại Học viện Quân Y, Hà Nội

Người dành trọn đời nghiên cứu ký sinh trùng Việt Nam

Phần lớn các bạn trẻ hôm nay chỉ biết đến con đường mang tên Đặng Văn Ngữ mà ít ai biết đến người giáo sư lỗi lạc này. Giáo sư Đặng Văn Ngữ đã có rất nhiều đóng góp cho ngành ký sinh trùng Việt Nam, ông đã công bố 19 công trình nghiên cứu, trong đó có những công trình nổi tiếng thế giới và khu vực. Năm 1936, ông đã phát hiện ra loài sán Clonorchis sinensis có thể ký sinh ở tụy. Phát hiện này đã gây một tiếng vang lớn ở Việt Nam và trên thế giới. Chu kỳ tiến hóa của loài này cũng được ông tìm hiểu, bằng thực nghiệm ở loài Bythinia chaperi và B.longicoris (1938)… Với phong cách tỉ mỉ, cẩn trọng trong nghiên cứu về nấm, ông đã được giáo sư người Nhật - Masuo Ota từng cộng tác với ông nhận xét: ông thực sự là nhà nấm học giỏi của châu Á…Ông là một trong 45 vị giáo sư đầu tiên của Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định phong tặng và được đề cử làm Giáo sư Trường Y - Dược khoa đại học theo Quyết định số 39 - ZYO/ND/3 ngày 21.1.1955 cùng các vị: Hồ Đắc Di, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Vũ Hỷ, Nguyễn Xuân Nguyên, Tôn Thất Tùng...

Để tưởng nhớ người thầy lỗi lạc Đặng Văn Ngữ, cứ vào ngày 4-4 hàng năm, đúng vào ngày sinh của ông, các học trò của thầy từ mọi miền đất nước, gặp gỡ nhau để tưởng nhớ đến thầy, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác phóng chống Ký sinh trùng. Hội nghị Khoa học Ký sinh trùng hàng năm có ý nghĩa hết sức to lớn như vậy…Hiện nay, tại Viện sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương đã đặt tượng giáo sư vào nơi trang trọng nhất của Viện

Những báo cáo mang tính ứng dụng cao

Tại Hội nghị, nhiều báo đã được các đại biểu rất quan tâm, trong đó có bài tham luận của nhóm nghiên cứu Viện Vệ sinh phòng dịch quân đội, Viện 211 với đề tài “Đánh giá hiệu lực điều trị chống kháng của artekine” tại một số đơn vị quân đội ở Tây Nguyên (2006-2007). Nhóm nghiên cứu đã sử dụng in vivo thử nghiệm trong 28 ngày của WHO kết hợp với kỹ thuật PCR và PCR- RFLP để đánh giá hiệu lực điều trị chống kháng của artekine trên 35 ca sốt rét (SR) do P.falcipaurum tại một số đơn vị ở Tây Nguyên kết quả cho thấy: artekine có hiệu lực điều trị chống kháng tốt; thời gian cắt sốt trung bình 20,5 đến 10,4 giờ, thời gian sạch ký sinh trùng SR trung bình 32,1 đến 16,1giờ. Điều đặc biệt tỷ lệ điều trị khỏi là 100%.

Nhóm nghiên cứu Bệnh viện Việt Đức, viện Thú y quốc gia, đại học Y Hà Nội với đề tài “Tổn thương gan do sán lá gan lớn (Fasciola SPP)” trên bệnh nhân điều trị tại Khoa Gan-Mật, biện viện Việt-Đức năm 2007 cũng đem lại thành công rất tốt. Tại Hội nghị, báo cáo viên Nguyễn Thị Giang Thanh cho biết: “Tổn thương gan dạng u và áp xe do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó có sán lá gan lớn Fasciola. Chúng ký sinh trong gan và đường mật gây phá huỷ tổ chức gan tạo nên những ổ tổn thương, hoại tử, hình ảnh này quan sát rõ trên siêu âm là những ổ âm hỗn hợp, đôi khi tăng hay giảm âm. Năm 2006, Khoa Gan-Mật Bệnh viện Việt Đức đã điều trị cho 138 bệnh nhân (BN), tuổi từ 17-78 tuổi, trong đó 11 BN gan bị tổn thương do nhiễm sán lá gan lớn được xác định bằng ELISA, 2 BN tìm thấy trứng sán lá gan lớn trong phân, 2 BN đến viện trong tình trạng cấp cứu phải can thiệp phẫu thuật cắt gan vì tai biến do sán gây ra. Tất cả các bệnh nhân được điều trị bằng triclabendazole đều khỏi bệnh. ”

Một báo cáo được đưa ra của nhóm nghiên cứu Trường đại học Y Hà Nội, trung tâm Y tế dự phòng Vĩnh Phúc cũng gây ngạc nhiên không những đối với người “ngoại đạo” mà ngay cả với ngành y với đề tài “Nhiễm gan đường ruột trên người ăn trầu” tại cộng đồng dân cưu xã Lãng Công, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2007. Qua nghiên cứu cho thấy, tình trạng nhiễm giun đường ruột trên nhóm người ăn trầu thường xuyên nhằm xác định ảnh hưởng của tập quán này với nhiễm giun tại cộng đồng dân cư xã Lãng Công, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. So sánh 100 người thường xuyên với 100 người không bao giờ ăn trầu (trong cùng một cộng đồng dân cư) và tương đồng về nghề nghiệp, tuổi, giới. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun đường ruột trên nhóm ăn trầu đều cao hơn nhóm không ăn trầu. Như vậy, ăn trầu không có tác dụng diệt giun đường ruột, nhóm này cũng cần tẩy giun như những người không ăn trầu.

Với hơn 20 đề tài khác nhau, được báo cáo tại Hội nghị, phần lớn những báo cái này đã và đang được ứng dụng rất hiệu quả trong công tác điều trị và chăm sóc sức khoẻ người dân.

Hội nghị Khoa học Ký sinh Trung toàn quốc được diễn ra thường niên. Thông qua những cuộc hội thảo này, các nhà khoa học chuyên ngành ký sinh trùng có điều kiện trao đổi, bàn bạc để đưa ra những kỹ thuật chẩn đoán, biện pháp phòng, chống ngày càng hiệu quả hơn. Điều đó cho thấy, sức khoẻ của cộng đồng sẽ ngày càng được chăm sóc tốt hơn.

Bài và ảnh: Hồng Anh