QĐND Online – Đây là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền chiều 30-5, khi báo cáo giải trình trước Quốc hội về vấn đề chênh lệch số liệu lao động qua đào tạo, tạo việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp, vấn đề giảm nghèo của các cơ quan…

Trong buổi thảo luận tại hội trường, một số đại biểu Quốc hội băn khoăn về tỷ lệ giảm nghèo khi cuối năm 2012 là 1,76% còn số liệu chính thức gần đây là 2,5%. Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền cho biết, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo, từ Trung ương đến địa phương đều thành lập một ban chỉ đạo giảm nghèo. Trong chương trình thực hiện công tác giảm nghèo mỗi địa phương hằng năm phải đánh giá, rà soát chỉ tiêu giảm nghèo từ cơ sở lên. Trên cơ sở rà soát đánh giá của từng tỉnh và có báo cáo của chủ tịch UBND tỉnh, thông qua HĐND tổng hợp lại thì hộ nghèo cả nước là 9,6%. Trên cơ sở đánh giá đó, Bộ yêu cầu cho rà soát, kiểm tra ở một số địa phương và khẳng đinh số liệu trong báo cao là đúng. Tuy nhiên, cũng như ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội, tỷ lệ này chưa đồng đều, chưa bền vững. Vì tỷ lệ nghèo trong cả nước là 9,6%, nhưng ở vùng núi Đông Bắc lại hơn 17%, vùng Tây Bắc gần 30%, Tây Nguyên là 15%, trogn khi Đông Nam Bộ chỉ còn 1,2%...

Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền báo cáo giải trình trước Quốc hội

Để giải quyết vấn đề này, tiếp thu ý kiến cử tri và đại biểu Quốc hội, ngày 22-4, Hội nghị sơ kết công tác giảm nghèo trong 2 năm đã  khẳng định, chính sách giảm nghèo mang lại hiệu quả thiết thực và đồng tình số liệu báo cáo của các địa phương về hộ nghèo. Tuy nhiên, hội nghị cũng chỉ ra, chính sách về hộ nghèo còn chồng chéo, nên đã chỉ đạo: Rà soát các chính sách đề sắp xếp lại cho hợp lý; thống nhất giảm dần chính sách hỗ trợ trực tiếp bằng cho vay… 

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền bày tỏ sự tin tưởng việc giảm nghèo được 2%. Theo Bộ trưởng, trong năm 2012, mặc dù kinh tế-xã hội khó khăn, nhưng kinh phí cho giảm nghèo vẫn tăng qua các chính sách, như: Chính sách khám, chữa bệnh đã dành 23.300 tỷ đồng cho 29 triệu người nghèo thực hưởng chính sách BHYT. Trợ giúp mệnh giá cho 70% hộ cận nghèo được mua BHYT. Chính sách hỗ trợ cho học sinh nghèo trong giáo dục, Nhà nước cũng dành 11.844 tỷ đồng. Chính sách hỗ trợ cho đất sản xuất, hỗ trợ cho đào tạo nghề và chính sách hỗ trợ cho tín dụng ưu đãi đã hỗ trợ cho trên 1 triệu hộ được vay vốn này với kinh phí 37.400 tỷ đồng. 500.000 hộ nghèo được hỗ trợ từ chính sách nhà ở, kinh phí là 2.741 tỷ đồng. Như vậy, nguồn lực các hộ nghèo đã có vươn lên, rồi từ ngân sách, đồng thời huy động các doanh nghiệp hỗ trợ nên đủ nguồn lực để giảm nghèo và đạt kết quả như báo cáo.

Giải thích về chỉ tiêu việc làm của thống kê là 1.347.000 người có việc làm mới còn của Bộ là 1.520.000 có việc làm mới, Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền cho biết: Số liệu thống kê được lấy từ số việc làm mới năm 2012 trừ đi số việc làm mới năm 2011 và ra kết quả 1.347.000 việc làm mới. Nhưng với ngành lao động, ngoài số liệu đó còn có số việc làm thay thế (một năm có 120.000 người nghỉ thì cũng tạo 120.000 việc làm mới), cùng với đó còn 80.000 lao động đi xuất khẩu lao động. Do vậy, có sự chênh nhau là do cách tính chưa thống nhất.

Trước việc một số đại biểu cho rằng tỷ lệ thất nghiệp 2% chưa chính xác, Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền cho biết, qua khảo sát kiểm tra ở một số tỉnh cho thấy ở Việt Nam có một đặt thù phần đông doang nhiệp mới thành lập và doanh nghiệp vừa và nhỏ nhận lao người lao động ở địa bàn nông thôn. Do vậy, khi doanh nghiệp giải thể, lực lượng lao động này lại trở về nông thôn và vẫn có điều kiện có việc làm, nhưng thu nhập còn thấp và bấp bênh. Hơn nữa, doanh nghiệp giải thể phần đông là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi nhiều doanh nghiệp mới thành lập lại thu hút lao động rất đông. Do vậy, tỷ lệ thất nghiệp 2% là phù hợp với thực tế.

Dạy nghề cũng là lĩnh vực nhiều đại biểu quan tâm về số liệu dạy nghề và tình hình dạy nghề. Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền phân tích: Về số liệu thống kê được tính theo cách thống kê theo chọn mẫu và chỉ tính số lao động qua đào tạo, có bằng trung cấp nghề trở lên, tức là có chứng chỉ trở lên. Ngành lao động lại tổng hợp qua các tổ chức đào tạo nghề và trong đó có cả những người có chứng chỉ nghề, những người đào tạo ngắn hạn và những người dưới 3 tháng. Hiện nay, một số khu công nghiệp không phải chỉ nhận lao động qua đào tạo nghề, nhiều doanh nghiệp đào tạo 3 - 5 tháng cho lao động mới. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổng hợp từ các doanh nghiệp, từ các ngành kinh tế và từ các địa phương và trung tâm dạy nghề nên số liệu giữa ngành thống kê với số liệu của Bộ có chênh lệch. Trước y kiến đại biểu nêu, “với trách nhiệm thành viên Chính phủ, chúng tôi sẽ cùng với ngành kế hoạch thống kê thống nhất cách đánh giá các chỉ số cho đảm bảo phù hợp” Bộ trưởng nhấn mạnh.

XUÂN DŨNG