Thực hiện Quyết định số 661 của Thủ tướng Chính phủ (về việc trồng mới 5 triệu héc-ta rừng), mặc dù các dự án cơ sở đã có nhiều cố gắng, song, tổng kết giai đoạn (1999 - 2005), công tác trồng mới rừng của Tây Ninh chỉ đạt 68,1% chỉ tiêu kế hoạch. Và sau khi có kết luận của Đoàn Kiểm toán Nhà nước (tháng 5-2006), Tây Ninh còn phải hoàn trả lại hơn 4,7 tỉ đồng tiền vốn của Nhà nước đã cấp cho công tác này! Vì sao vậy?

Nguyên nhân trồng rừng không đạt chỉ tiêu kế hoạch, theo ông Phạm Văn Yên, Phó giám đốc sở NN & PTNT tỉnh Tây Ninh, do hầu hết diện tích đất quy hoạch trồng rừng bị dân bao chiếm và sử dụng sản xuất các loại cây nông nghiệp như mía, khoai mì (sắn)… với diện tích quá lớn. Việc tổ chức gặp, thảo luận trực tiếp, tháo gỡ vướng mắc với các hộ dân này rất khó khăn vì có hộ cư trú ở các tỉnh bạn. Nhiều hộ bao chiếm hiện đang sản xuất mía cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy đường trong tỉnh, phá mía đi để trồng rừng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế của họ.
Bộ đội đơn vị C4TT phát quang đường băng chống cháy dưới chân núi Cậu.

Mấy năm gần đây, giá mủ cao su tăng cao, việc trồng cao su mang lại hiệu quả kinh tế hơn trồng rừng (thời gian thu hoạch ngắn hơn, chỉ sau hơn 3 năm so với trồng rừng sau hơn 8 năm)… đã phần nào giảm sự kích thích, không thu hút người dân vùng dự án trồng rừng. Thậm chí, nhiều hộ dân đã ký hợp đồng và tạm ứng tiền trồng rừng, nhưng không trồng rừng mà lén lút trồng cây cao su (trồng vào ban đêm, trồng xen trong các dãy khoai mì cao hơn 2 mét)...

Trong khi các hộ dân không thực hiện hợp đồng trồng rừng theo quy hoạch thì việc xử lý các vi phạm Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, của chính quyền các địa phương còn lúng túng, chậm, thiếu kiên quyết, gây nhiều khó khăn cho các dự án cơ sở thực hiện kế hoạch được giao.

Trong khi đó, ở Bình Dương không có quy mô lớn về diện tích đất lâm nghiệp như Tây Ninh, sau khi tái lập tỉnh (1997), đã tập trung vào trồng mới ở rừng phòng hộ núi Cậu (huyện Dầu Tiếng). Thực hiện Dự án này, Ban Quản lý Dự án đã tiến hành khảo sát, xây dựng thiết kế, kế hoạch trồng rừng ở những nơi cây rừng không có khả năng phát triển được, nhằm nhanh chóng phủ xanh diện tích hơn 1.600ha đất trống, lập lại cân bằng sinh thái cho vùng dân cư xung quanh Dầu Tiếng và cả khu vực.

Có một điểm rất khác biệt trong khâu tạm ứng vốn cho người trồng rừng của hai địa phương này khi thực hiện Dự án 661. Ở Tây Ninh, theo ông Phạm Mạnh Cường, trưởng phòng lâm nghiệp (Sở NN&PTNT), trong quá trình thực hiện hợp đồng, Sở tạm ứng 70% vốn theo tiến độ thực hiện các công đoạn (trồng mới, chăm sóc lần 1, chăm sóc lần 2) và quyết toán hợp đồng theo kết quả cuối cùng theo cơ sở của hội đồng nghiệm thu. Còn ở Bình Dương, trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Thắng, trưởng ban Quản lý Dự án trồng rừng phòng hộ Dầu Tiếng (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Dương) cho biết, trong 6 năm (2000 - 2005), Ban Quản lý đã chi 1,408 tỉ đồng vốn đầu tư vào công tác trồng rừng, trong đó vốn của Trung ương là 249,2 triệu đồng, 1,159 tỉ đồng là vốn của địa phương.

Với nguyên tắc, làm tới đâu gọn tới đó, Ban đã tổ chức thăm dò, xác minh, thuê nhân công ở các ấp Yên Ngựa, Tha La, Rạch Đá thuộc xã Định Thành của địa phương. Thực hiện trồng rừng, người hợp đồng trồng rừng phải bỏ vốn ra trồng trước các loại cây xà cừ, tràm keo lá, sau nghiệm thu khoảng một tháng, Ban Quản lý làm thủ tục rút ngân sách chi trả lại cho phần trồng mới. Phần thanh toán cho các công đoạn sau (chăm sóc lần 1, chăm sóc lần 2) cũng áp dụng phương pháp này theo khung giá của Nhà nước quy định (2,5 triệu đồng/ha cho cả khâu trồng và khâu chăm sóc). Sau 4 năm, số rừng trồng mới và đã qua hai giai đoạn chăm sóc này sẽ được bàn giao cho ngành kiểm lâm thực hiện chế độ khoanh nuôi và bảo vệ rừng.

Để Dự án đi đến kết quả trọn vẹn, trong các phần việc ở công đoạn sau cùng này, việc tổ chức các phương án phòng và chữa cháy (PC&CC) đóng vai trò quan trọng. Theo đồng chí Nguyễn Văn Phương, hạt phó hạt Kiểm lâm Dầu Tiếng, 6 năm trở lại đây, trên địa bàn khu vực không để xảy ra vụ cháy nào. Nhiều tháng trước mùa khô, Hạt đã có những hoạt động phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong vùng như bộ đội thông tin núi Cậu, Ban CHQS huyện, Công an huyện, Công ty Cao su Dầu Tiếng… xây dựng các phương án PC&CC, để bước vào đầu mùa khô, các đơn vị tổ chức kịp thời việc phát quang, chống cháy.

Tại Đơn vị C4 TT, trao đổi với chúng tôi, đại úy Trần Hải Hà, chỉ huy đơn vị, cho biết, ngoài việc huấn luyện SSCĐ, bảo đảm thông tin thường xuyên thông suốt, các tháng trong mùa khô, đơn vị chủ động tổ chức cho bộ đội phát quang, lập các đường băng, hành lang chống cháy. Đường băng phát quang từ doanh trại lên đỉnh núi, dài khoảng 1.300m rộng 10 mét, bộ đội phải lao động suốt cả tháng mới hoàn thành. Dù có vất vả, song anh em đã quyết tâm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ này, vì chống cháy, bảo vệ rừng cũng là bảo vệ đơn vị, bảo vệ tài sản thực lực trang bị của quân đội và làm đẹp thêm cảnh quan môi trường của đơn vị…

Phát triển kinh tế phải gắn với an sinh của cộng đồng xã hội. Để Dự án thành công, ngoài việc thực hiện nghiêm trong quản lý tài chính, cấp vốn, thanh toán vốn ngân sách (như Bình Dương đã làm), rất cần sự sát sao trong chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, các ngành và tăng cường hơn nữa việc giám sát các đơn vị cơ sở, xử lý kiên quyết, kịp thời hơn đối với những người vi phạm pháp luật. Để Dự án đạt hiệu quả tốt, thiết nghĩ, thời gian tới, công tác trồng mới rừng ở hai tỉnh trên cần có những điều chỉnh phù hợp với các điều kiện thực tế ở đây. Làm sao vẫn bảo đảm chức năng phòng hộ của rừng, tạo được độ phủ xanh, cân bằng môi trường sinh thái nhưng vẫn góp phần giúp người dân xóa đói, giảm nghèo qua việc trồng xen những loài cây ngắn ngày (theo khu vực) có giá trị kinh tế, với việc trồng một số loài cây gỗ lớn có giá trị đặc biệt cao như gõ, lim, sao… mà nguồn vốn đầu tư không nhất thiết phải từ nguồn ngân sách của Nhà nước!

Bài và ảnh: BẢO CHÂU