QĐND Online – Đây là nội dung chính của Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được Chính phủ trình Quốc hội chiều 4-6…

Chiều 4-6, Bộ trưởng Bộ tư pháp Hà Hùng Cường, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam. Ảnh: TTXVN.

Ngày 13-11-2008, Quốc hội khóa XII thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi). So với các Luật Quốc tịch trước đó không công nhận hai quốc tịch (Luật năm 1988 và Luật năm 1998), thì Luật Quốc tịch năm 2008, trong khi vẫn duy trì nguyên tắc một quốc tịch Việt Nam, lần đầu tiên có quy định cho phép công dân Việt Nam trong một số trường hợp đặc biệt được có hai quốc tịch. Đồng thời, để giải quyết tình trạng không rõ ràng về quốc tịch Việt Nam của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài do lịch sử để lại, trên cơ sở quán triệt chính sách một quốc tịch của Đảng và Nhà nước ta từ năm 1945 đến trước khi Luật có hiệu lực, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định tại khoản 2 Điều 13 một điều khoản có tính chất chuyển tiếp như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam.

Chính phủ quy định trình tự thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam”.

Việc quy định đăng ký giữ quốc tịch theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 thể hiện sự tôn trọng quyền lựa chọn, quyết định của người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam trong việc giữ quốc tịch Việt Nam; thể chế hóa chính sách của Đảng ta đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được ghi nhận tại Nghị quyết số 36/NQ-TƯ ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị. Mặt khác, quy định việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam cũng tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo hộ của Nhà nước ta đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, đồng thời bảo đảm cho công tác quản lý quốc tịch, quản lý công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiệu quả hơn, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Luật quy định thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là 5 năm, từ ngày 1-7-2009 đến 1-7-2014.

Để triển khai thi hành Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 nói chung và quy định tại khoản 2, Điều 13 về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam nói riêng, Chính phủ, các Bộ, ban, ngành đã ban hành hàng loạt Nghị định, thông tư…

Có thể nói, thể chế cho công tác đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam về cơ bản đã đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cũng như cho cơ quan thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

Tuy nhiên, sau gần 5 năm thực hiện đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, theo Báo cáo của Bộ Ngoại giao, tính đến ngày 31-12-2013, mới có trên 6.000 người làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. So với tổng số người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam thì tỷ lệ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được là rất thấp. Trong khi đó, thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ kết thúc vào ngày 1-7-2014 tới đây, mà theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì những người không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam. Sau này, nếu có nguyện vọng thì họ phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật. Thực tế này đòi hỏi cần ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam trong việc lựa chọn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích và nguyện vọng gắn bó với quê hương, đất nước của họ.

Dự thảo luật được Chính phủ trình ngày 4-6, sửa đổi, bổ sung Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 theo hướng bỏ thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều này, đồng thời bổ sung khoản 2a quy định về trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (trên cơ sở luật hóa một số quy định về đăng ký giữ quốc tịch tại Nghị định số 78/2009/NĐ-CP của Chính phủ).

Do việc sửa đổi khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam theo hướng không quy định thời hạn đăng ký giữ quốc tịch, nên không còn căn cứ để giữ quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, theo đó người không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam theo khoản 2 Điều 13 của Luật (trong một thời hạn nhất định) sẽ bị mất quốc tịch Việt Nam. Do đó, dự thảo Luật đã bỏ khoản 3 Điều 26 của Luật.

XUÂN DŨNG