Nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc (ngoài cùng bên phải) truyền dạy ca trù cho lớp trẻ. Ảnh: Hoàng Hải   

Ca trù và Quan họ cùng lúc được UNESCO vinh danh là Di sản Phi vật thể của nhân loại đã trở thành một niềm vui lớn cho những người yêu và nặng lòng với Di sản. Vậy là những giá trị văn hóa của dân tộc tồn tại và kết tinh bao đời nay đã được cả thế giới biết đến, trân trọng và tôn vinh. Nhưng vui đấy, rồi cũng lại lo đấy, khi các nghệ nhân, những người đang gìn giữ một phần di sản đều đã bước vào cái tuổi "xưa nay hiếm". Bảo tồn và truyền dạy thế nào, chế độ đãi ngộ ra sao... đang là một trong những vấn đề cấp bách.

Những người “giữ lửa”

Người dân làng Lỗ Khê (Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội) không ai là không biết đến nghệ nhân trống chầu Hoàng Kỷ. Hơn 80 tuổi, nhưng ông vẫn miệt mài nghiên cứu về ca trù, viết sử giáo phường Lỗ Khê, rồi nghiên cứu, phục hồi lại những điệu múa cổ gắn liền với ca trù như múa tiên, tứ linh, biên soạn thể thức lề lối hát Cửa đình dạy cho lớp trẻ trong làng...

Ông đến với ca trù từ rất sớm, khi mới 12 tuổi, lúc đó ở Lỗ Khê - một trong những cái nôi của ca trù đất Bắc, các nghi lễ tế thần của làng thường được tổ chức rất lớn, thời gian kéo dài từ 10 đến 17 ngày. Ông được tuyển vào phường bát âm thổi sáo, kéo nhị và đánh sinh tiền phục vụ cho các nghi lễ đó. Những lời ca điệu nhạc đó nó ngấm sâu vào máu thịt của ông. Nó âm ỉ cháy trong suốt 40 năm công tác trong ngành quân đội. Và rồi vào năm 1990, cái quyết tâm "nhóm" lại "ngọn lửa" ca trù trong ông lại bùng cháy lên. Cùng với vốn tiếng Hán được học từ ngày còn nhỏ, ông tìm đọc các loại sách về ca trù, rồi ghi lại những hồi ức của các đào nương, kép đàn... Từ đó, ông cho ra đời công trình nghiên cứu của mình với tên gọi "Lịch sử phát triển 600 năm giáo phường Lỗ Khê- Liên Hà". Những điệu múa cổ ca trù tưởng như đã thất truyền, nay lại được ông phục dựng lại qua những dòng hồi ức của mình, sự xuất hiện của các điệu múa đó trong "Liên hoan múa cổ Thăng Long" đã như một sự ghi nhận cho những đóng góp của ông trong việc phục hồi các giá trị truyền thống.

Hơn 80 tuổi, dù là ngày mưa hay ngày nắng, nghệ nhân này vẫn miệt mài đem những kiến thức về ca trù mà mình có được truyền dạy cho lớp trẻ. Ngay cả khi căn bệnh tiểu đường với những biến chứng làm một bên mắt ông mờ đi, thêm nữa, từ thắt lưng trở xuống mỗi khi trái gió trở trời lại tê dại... cũng không làm ông nản. Không thể ra đình dạy học, ông mở lớp dạy ca trù miễn phí cho đám trẻ trong làng. Dù như lời ông nói, "cứ đi vài vòng quanh sân là mặt mày xây xẩm", nhưng lớp học của ông luôn sáng đèn.

Liên hoan CLB ca trù lần thứ hai vừa được tổ chức đầu tháng 10 ở Hà Nội, ngay sau khi ca trù được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Với sự tham dự của đông đảo các CLB ca trù trên toàn quốc, những người yêu di sản không khỏi mừng. Mừng vì chúng ta đã gây dựng được một thế hệ kế cận, tài năng và yêu nghề. Nhưng rồi cũng lại lo đấy khi những nghệ nhân-những "báu vật nhân văn sống" đã ngày một già yếu mà hình ảnh nghệ nhân-kép đàn Nguyễn Văn Khoái, sau 30 phút biểu diễn đã không thể tự mình đứng lên, phải có người dìu xuống sân khấu là một ví dụ điển hình. Cũng giống như kép đàn Nguyễn Văn Khoái, nhiều thành viên của CLB Ca trù thôn Chanh đều đã bước qua tuổi 80 như nghệ nhân Nguyễn Thị Vượn, nghệ nhân Nguyễn Thị Khướu, nghệ nhân Nguyễn Văn Vằng... nhưng ngọn lửa của lòng nhiệt tình, của đam mê giữ nghề vẫn thôi thúc họ miệt mài lên lớp truyền dạy cho lớp cháu con. Chính "ngọn lửa" này đã đưa họ vượt lên tất thảy những danh lợi vật chất, bệnh tật và tuổi già, gạt bỏ những khó khăn của cuộc sống thường nhật, họ vẫn gieo vào lòng người nghe những tiếng đàn nhịp phách trong trẻo đến không ngờ.

Nỗi lo cơm áo bao giờ vơi đi?

Câu chuyện về vợ chồng nghệ nhân Dương Thị Xanh và Trần Văn Đài ở Cổ Đạm-Nghi Xuân (Hà Tĩnh), mà có dịp gặp họ đã khiến tôi nhớ mãi, ngẫm thấy cái chữ "duyên" ấy thật lạ. Chị Xanh thích và theo học ca trù. Rồi chỉ vài lần nghe vợ hát, anh Đài-chồng chị vốn là một thợ điện bỗng thấy hay, liền theo học đàn đáy. Rồi anh chị trở thành một ca nương và kép đàn nức tiếng được những người yêu mến di sản ca trù gần xa biết tiếng. Đam mê là thế, nhưng buông đàn, buông phách là những nghệ nhân như anh Đài, chị Xanh... phải đối mặt với nỗi lo "cơm, áo, gạo, tiền". Trong cái thời buổi kinh tế khó khăn này, vài sào ruộng cùng với lương thợ điện của anh, cuộc sống phải tùng tiệm lắm thì mới đủ. Trăn trở của vợ chồng ca nương, kép đàn nức tiếng Cổ Đạm cũng là nỗi trăn trở chung của các thành viên nhiều CLB ca trù hiện nay.

Cũng giống như nhiều nghệ nhân khác, mấy chục năm qua, nghệ nhân quan họ Tạ Thị Hình ở thành phố Bắc Ninh vẫn ngày ngày dạy hát quan họ cho lớp trẻ suốt dọc làng trên xóm dưới. Không nỡ lấy tiền thù lao, lại còn bỏ thêm tiền "xe ôm" khi đi dạy ở xa. Thế mới hay, tấm lòng mà những nghệ nhân dành cho việc giữ gìn di sản mới đáng ngưỡng mộ và trân trọng biết nhường nào. Không chỉ có truyền dạy, cũng đã nhiều năm nay, bà Hình còn cất công sưu tầm những làn điệu quan họ cổ. Về đến nhà tỉ mẩn ghi chép, gần 300 bài quan họ cổ đã được bà viết thật tỉ mẩn. Bà bảo, khi nào xong sẽ tặng cho Bảo tàng Bắc Ninh. Khi chúng tôi hỏi, Quan họ đã được vinh danh rồi, những nghệ nhân như bà có mong muốn gì không. Bà cười, cuộc sống hiện tại của bà đã tạm ổn, già rồi, cũng không có nhu cầu gì nhiều. Nhưng nhiều cô giáo, thầy giáo của bà tuổi đã cao, sức đã yếu còn đang phải đối mặt với bao khó khăn của cuộc sống. Bà chỉ mong sao, có chế độ đãi ngộ kịp thời đối với những "di sản sống", ít nhất là chế độ bảo hiểm y tế.

Ngay sau khi Ca trù và Quan họ được UNESCO vinh danh, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) đã công bố hàng loạt các biện pháp bảo vệ, phục hồi và phát huy những di sản phi vật thể này, ví dụ như tiếp tục nghiên cứu, điều tra, sưu tầm, kiểm kê và hệ thống hóa hai di sản. Tiếp đến là xuất bản sách về 2 loại hình di sản này và để cho Di sản được lan tỏa sâu rộng hơn nữa. Bộ VH-TT&DL cũng đưa ra đề xuất đưa nghệ thuật ca trù vào giảng dạy trong trường học, thành lập Học viện Ca trù. Trong những biện pháp quan trọng để giữ gìn bảo tồn di sản mà Bộ VH-TT&DL đưa ra còn có các biện pháp truyền dạy cùng chính sách hỗ trợ nghệ nhân.

Tuy nhiên, nếu "xuôi chèo mát mái" thì chắc cũng phải vài năm nữa chúng ta mới có được một khung chuẩn cho việc hỗ trợ. Theo bà Lê Thị Minh Lý-Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, để triển khai việc hỗ trợ đời sống cho nghệ nhân, việc đầu tiên là phải có một nghị định về hỗ trợ nghệ nhân văn hóa phi vật thể. Nhưng theo lộ trình, phải đến quý II năm 2010 nghị định mới hoàn tất việc xây dựng và trình Chính phủ.

Như thế có nghĩa, để có một chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, các báu vật nhân văn sống sẽ vẫn phải đợi một thời gian dài nữa, trong khi những báu vật nhân văn sống ấy đang như những "lá vàng" trên cây, chỉ cần một cơn gió thôi là những "chiếc lá" ấy sẽ vĩnh viễn rời xa, mang theo cả những di sản tinh thần vô giá...

VƯƠNG HÀ-QUANG ANH