QĐND - Trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XII của Đảng, điểm 12 phần “Mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới” ghi rõ: “Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”.
Như vậy, giải quyết mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa là một trong những nội dung cần phải xử lý hài hòa để góp phần thúc đẩy đất nước phát triển ổn định, bền vững.
Qua 30 năm đổi mới, đời sống kinh tế, xã hội của nước ta đã có bước phát triển rõ rệt. Đã có giai đoạn kinh tế liên tục tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước. Tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành công nghiệp và dịch vụ trong tổng giá trị sản xuất quốc dân tăng, kết cấu hạ tầng của xã hội được nâng cao, đời sống người dân được cải thiện. Nhờ thu nhập được nâng cao, phần lớn các hộ gia đình (kể cả nông thôn, vùng cao, vùng sâu) đã sắm sửa được các phương tiện phục vụ cho sinh hoạt vật chất và tinh thần. Cũng nhờ có tăng trưởng kinh tế, chúng ta đã thực hiện khá tốt một số chính sách xã hội như xóa đói, giảm nghèo, chương trình 135, 134 dành cho miền núi và đồng bào dân tộc. Số người trong độ tuổi lao động đang thiếu công ăn việc làm cũng được thu hút vào các khu công nghiệp, khu chế xuất và các hoạt động dịch vụ. Chỉ số phát triển con người (HDI) cũng được nâng lên.
Những kết quả nêu trên là có thật, nhưng nếu phân tích một cách sâu sắc hơn thì thấy ngay trong các kết quả thu được đó, cũng còn tồn tại nhiều vấn đề trăn trở. Lấy ví dụ, giải quyết công ăn việc làm, thì đời sống của người lao động ở đó ra sao? Tay nghề có được nâng cao không? Họ đã yên tâm làm việc chưa? Vì sao những cuộc đình công lại liên tục nổ ra?
Tuổi thọ bình quân có được nâng lên, tỷ lệ trẻ em chết yểu lúc mới sinh ra giảm. Nhưng chế độ chăm sóc sức khỏe cho toàn dân, đặc biệt với những người nghèo, vẫn là vấn đề nan giải. Chất lượng giáo dục còn nhiều bất cập, yếu kém. Cơ sở vật chất của các bệnh viện và trường học vừa thiếu vừa yếu. Trình độ chuyên môn và đạo đức của người thầy thuốc và thầy giáo còn là vấn đề mà xã hội quan tâm lo lắng.
Nếu mở rộng tiêu chí HDI ra các chỉ số thể hiện sự lành mạnh về môi trường xã hội và về môi trường tự nhiên, thì ở đây chúng ta đang gặp phải những vấn đề phức tạp. Cùng với sự suy yếu về đạo đức đang diễn ra trong một bộ phận cán bộ và nhân dân, sự xuất hiện các tệ nạn và tội phạm xã hội đang gây sự bất bình trong xã hội. Nạn ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động, đặc biệt ở các thành phố, khu công nghiệp và vùng ven đô. Sự bất bình đẳng về thu nhập, về hưởng thụ các thành quả xã hội đang có nguy cơ doãng ra giữa các ngành nghề, giữa các vùng miền. Tình trạng trên nếu không được khắc phục thì không những sẽ triệt tiêu các động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội, mà còn gây bất ổn cho xã hội.
Ai cũng biết rằng đất nước ta còn nghèo. GDP bình quân tuy có tăng nhưng so với thế giới và các nước xung quanh thì còn thấp, kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu. Phải tập trung phát triển kinh tế, phải coi đó là nhiệm vụ trung tâm. Nhưng làm gì để phát triển kinh tế và phát triển kinh tế như thế nào lại là vấn đề cực kỳ quan trọng mà không phải lúc nào chúng ta cũng quán triệt được. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội, là sức mạnh nội sinh của sự phát triển. Thực tế nhiều nước trên thế giới cũng đã nhiều lần cảnh báo: Nếu chỉ lo tập trung cho phát triển kinh tế mà bỏ qua hoặc bất chấp các giá trị văn hóa thì những nguy cơ rủi ro và sụp đổ là điều khó tránh.
Thực trạng vấn đề đó hiện nay ở nước ta như thế nào? Nhìn chung, đại bộ phận lao động của chúng ta là lao động giản đơn, tay nghề thấp, kể cả trong các cơ sở kinh tế hiện đại. Chúng ta chưa có một đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật có tay nghề cao, có hiểu biết về khoa học và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Vì là lao động giản đơn, đồng lương thấp, điều kiện sinh hoạt khó khăn, họ chưa có nhiệt tình lao động. Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là những giá trị văn hóa kết tinh trong những người lao động chưa biến thành động lực cho phát triển kinh tế. Tính tích cực lao động chưa có cơ chế để phát huy. Nếu tình hình này cứ tiếp tục diễn ra thì sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta sẽ bị thua thiệt.
Kết quả khảo sát đời sống công nhân các khu công nghiệp, chế xuất... đã chứng tỏ những người quản lý điều hành sản xuất kinh doanh hầu như còn xa lạ với tư tưởng coi văn hóa là động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế. Về phương diện này, những kinh nghiệm thành công của các nước, đặc biệt của Nhật Bản, rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Dù là các xí nghiệp tư bản, nhưng người Nhật đã rất thành công trong việc xây dựng ý thức cộng đồng giữa các thành viên trong các doanh nghiệp. Họ coi doanh nghiệp là nhà của mình. Trong tiếng Nhật, chữ "ie" (nhà tôi) có nghĩa là nơi tôi làm việc, công ty hoặc cơ quan mà tôi đang làm việc. Vì vậy, họ gắn bó với nhau, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với nhau. Đã thành thường lệ, đến ngày sinh nhật của ai đó trong cơ quan hay xí nghiệp thì người giám đốc, hay đại diện của giám đốc đến gửi lời chúc mừng hoặc món quà nhỏ. Thậm chí, có xí nghiệp còn bỏ tiền ra mua đất để làm nghĩa trang riêng của xí nghiệp. Nhờ ý thức cộng đồng được nâng cao, người lao động càng quan tâm nhiều đến uy tín của công ty, của xí nghiệp mình, do đó họ làm hết mình cho công ty. Năng suất lao động được hình thành chủ yếu từ đó.
Để kinh tế tăng trưởng thì phải đô thị hóa, phải xây dựng các khu công nghiệp lớn. Nhưng phải tiến hành đô thị hóa như thế nào, và xây dựng các khu công nghiệp ra làm sao để đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng tại đó được nâng cao, lại là vấn đề lớn. Sự ô nhiễm môi trường tự nhiên và cả môi trường xã hội trong các khu đô thị, khu công nghiệp đã đến mức báo động. Thực tiễn đang đặt ra vấn đề phải gắn quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa với việc chăm lo giải quyết tốt đời sống của người lao động và gia đình của họ được tốt hơn: Công ăn việc làm, học hành, khám, chữa bệnh, đi lại, vui chơi giải trí... Đó cũng là cách cần thiết để gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Lịch sử cũng đã từng ghi lại những mất mát to lớn đối với đời sống của người nông dân, đối với các giá trị văn hóa dân tộc và đối với môi trường tự nhiên, do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa gây ra. Những bài học thất bại đó không được phép lặp lại. Hiện nay, ở các quốc gia tư bản, cũng có những người đã nhận thức ra điều đó, và họ biện minh rằng đó là thể hiện sự tham lam của chủ nghĩa tư bản lúc mới ra đời.
Sang thế kỷ XXI, lương tri nhân loại càng có điều kiện khẳng định rằng: Để tồn tại lâu dài và hạnh phúc trên trái đất này, con người không thể vì lợi ích vật chất mà bỏ quên lợi ích tinh thần, không thể vì lợi ích trước mắt mà bỏ quên lợi ích lâu dài, không thể vì lợi ích cá nhân mà bỏ quên lợi ích cộng đồng. Nhiều phong trào có tính quốc gia hay tự phát của các cư dân ở một số nước đang nói lên điều đó. Từ 10 năm nay, quốc đảo Xin-ga-po hằng năm đều tổ chức "Tuần tử tế". Trong tuần lễ đó, từ Thủ tướng Chính phủ đến những người dân thường đều dùng những hành vi và ngôn ngữ, cử chỉ đẹp để đối xử với nhau. Ở Pháp, theo kết quả công bố gần đây của Gerard Demuth-Tổng giám đốc Trung tâm Xã hội học nước Pháp, thì một bộ phận dân cư Pháp đang dần dần từ bỏ xã hội tiêu dùng (société de consommation) để bước sang "xã hội đi tìm ý nghĩa" (société de sens). Kết quả là một phong trào tiết kiệm tiêu dùng vật chất đã diễn ra, và nguyên nhân không phải vì kinh tế mà vì tâm lý. Bằng thể nghiệm cụ thể, người ta thấy rằng càng lao vào xã hội tiêu dùng, con người càng cảm thấy hạnh phúc quá xa vời. Đã xuất hiện hiện tượng một số người rất giàu có đã bỏ ra một tài sản kếch xù để làm công tác từ thiện... Phải chăng đấy là những dấu hiệu của sự phục hưng các giá trị nhân văn, nhân bản ở thời đại chúng ta?
Đảng ta đã nhiều lần khẳng định, phải đưa văn hóa vào kinh tế, phải đặt chiến lược con người vào vị trí trung tâm các chiến lược kinh tế xã hội, có nghĩa là chiến lược kinh tế-xã hội (bao gồm cả tăng trưởng kinh tế) phải xuất phát từ con người, lấy con người làm trung tâm, coi con người là mục tiêu và động lực. Khi kinh tế và văn hóa đều hướng tới con người, tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện con người, thì mỗi bước tiến của kinh tế sẽ là tiền đề cho sự phát triển văn hóa, và ngược lại, sự phát triển văn hóa sẽ tạo điều kiện để kinh tế phát triển một cách bền vững. Cố nhiên, để làm được điều đó, cần một cơ chế chính sách và một hệ thống luật pháp đồng bộ, chặt chẽ. Nhưng trước hết và trên hết vẫn là vấn đề con người, bởi vì chính con người làm ra cơ chế chính sách, luật pháp, và cũng chính con người triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách và luật pháp.
GS, TS TRẦN VĂN BÍNH