Cán bộ Đoàn KT-QP 5 và bà con bản Ón.

Chuyện rằng, mùa mưa bão năm 1980, người dân ở bản Lát (huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa) một hôm sau trận lũ nhìn thấy mấy mảnh vỡ của cái máng nước theo dòng suối chảy từ trong rừng ra. Đoán chắc là trong rừng sâu có người, bèn cử một đội “do thám”, men theo dòng suối đi mãi vào trong. Vừa đi vừa gọi: “Hu… Hu… Có ai không? Có người ở đây không?”. Rừng vắng. Đi mãi mới đến một thung lũng, gặp mấy chục người đồng bào dân tộc thiểu số sống trong những túp lều tạm bợ, đói khổ và bệnh tật. Xa xa là một đỉnh núi đá cao mờ mây phủ. Sau này về giở bản đồ thì mới biết, đỉnh núi đá xa mờ kia chính là ngọn Luông Pha Băng nổi tiếng của nước bạn Lào, còn nơi họ tìm thấy những người Mông di cư từ ngoài Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu… vào, được đặt tên là Ón, tiếng Mông nghĩa là “nơi tận cùng”.

Đường vào bản Ón cách đây ít lâu vẫn chẳng có gì đổi khác so với cái thời xa xưa đó. Cán bộ, chiến sĩ các đội công tác Đoàn KT-QP 5 (Quân khu 4) hành quân vào làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động quần chúng, giúp dân dựng nhà dựng cửa định canh, định cư, đều phải mất hai ngày trèo đèo, lội suối. Trong ba lô hành quân anh em chuẩn bị toàn mì tôm, thêm dăm gói bánh, kẹo để phát cho lũ trẻ. Nhưng giờ đây, nhờ con đường tuần tra biên giới (dẫu chưa xong), chúng tôi mới đến được bản Ón. Đường men theo sườn núi chênh vênh, hiểm trở, ngẩng mặt là mây trắng vờn quanh đỉnh núi, cúi mặt là vực sâu hun hút, những cành đào đá mùa xuân đã bừng nở, sắc hoa hồng thắm làm ấm nồng thung lũng…

Bản Ón hiện ra trước mắt chúng tôi dưới làn sương phủ kín. Con đường tuần tra biên phòng đỏ nâu màu đất, đã dừng lại ở đây - chính điểm chót của cái doi đất nhô ra như ngón tay út vùng Tây Bắc trên bản đồ Tổ quốc. Hai mặt là biên giới Việt – Lào, phía đông bắc là tỉnh Sơn La. Đứng trên điểm cao có thể bao quát được một vùng rộng lớn biên cương, những con đường mòn như sợi chỉ của người dân đi làm nương vắt ngang những sườn núi trọc. Thấp thoáng là những căn chòi canh rẫy của bà con người Mông. Gió mạnh làm bạt đi tiếng nói của Thượng tá Thiều Ngọc Vy – Phó chính ủy Đoàn KT-QP 5: “Mới đầu đến vận động bà con sống tập trung lại thành một cụm bản, bà con nói, cái chân ta quen leo rừng, lội suối rồi, không quen ở tập trung đâu, chật chội lắm, bí lắm. Già bản còn nói, ngàn đời nay người Mông ta làm nhà ở trên núi cao chính là được ở gần với thần linh, với tổ tiên. Bây giờ về ở dưới thung là mắc tội đó… Cán bộ giải thích: Về ở trong thung, bà con có đất canh tác, có suối lấy nước, chạy được máy thủy điện, có đèn thắp sáng, xem được ti-vi, đau ốm bệnh tật có thuốc chữa... Còn thần linh, tổ tiên của bà con cũng từng là con người, con cháu ở đâu, thì tổ tiên sẽ theo về đó. Với lại, hằng ngày bà con vẫn lên núi làm nương, làm rẫy, vẫn gần gụi với thần linh, tổ tiên, có sao đâu…”.

Dần dần bà con đã hiểu, 28 hộ đã theo bộ đội về lập bản mới. Dự án di giãn dân ra biên giới do Đoàn KT-QP 5 phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tại bản Ón đã có hiệu quả thiết thực. Đời sống bà con người Mông vốn sống cuộc đời du cư từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác, nay đã ổn định. Đoàn KT-QP 5 đã có nhiều sáng kiến trong thực hiện dự án này. Ngôi nhà to, rộng của ông Giàng A Sình tính ra trị giá hàng chục triệu đồng, trong khi chỉ được hỗ trợ kinh phí 15 triệu đồng. Tìm hiểu, chúng tôi mới biết toàn bộ số tiền hỗ trợ được Đoàn KT-QP 5 hướng dẫn nhân dân dành cho mua tấm lợp phibrô xi măng, đúc cột bê-tông và các phụ liệu mà bà con… không sản xuất được. Còn lại tất cả những thứ khác như vách che, khung cửa, cánh cửa v.v. đều được bà con tận dụng từ nhà cũ hoặc khai thác (được phép) từ núi rừng.

Rời bản Ón, chúng tôi được các em nhỏ tiễn đến đầu con dốc cao đến tức ngực. Các em chưa nói được tiếng phổ thông, chưa được đi học. Đó chính là điều mà lãnh đạo, chỉ huy Đoàn KT-QP 5 day dứt nhất. Người biết nói tiếng phổ thông ở trong bản chỉ đếm trên đầu ngón tay, và chỉ diễn đạt được những điều đơn giản. Vì quá xa huyện, đường sá hiểm trở và nhiều lý do khách quan nữa, mà cho đến tận bây giờ, vẫn chưa có một lớp học nào được mở ở nơi đây. Chúng tôi xin được nêu lên thực trạng đó gửi về ngành giáo dục huyện Mường Lát. Bản Ón – không phải là nơi tận cùng! Ở nơi đây, tất cả đang bắt đầu: cuộc sống của bà con người Mông đã được định canh, định cư trong một thung lũng đang bừng nở sắc hoa đào đá, nhưng “sắc hoa” văn minh, văn hóa còn thiếu vắng…

Bài và ảnh: Trần Hoài