Chiếc thuyền Độc Mộc đồng bào Vân Kiểu sử dụng để chở bình điện xe tăng trong trận đánh Làng Vây được trưng bày tại Bảo tàng TTG. Ảnh H.Anh

Tập đoàn cứ điểm Khe Sanh là một tập đoàn phòng ngự mạnh của Mỹ trên tuyến phòng thủ Đường 9, nằm ở phía Tây biên giới Việt – Lào. Lực lượng địch ở đây có gần 1 vạn quân cả Mỹ và Ngụy, là ‘Bức tường” án ngữ, khống chế cả một vùng núi rừng phía Tây, bao gồm những cụm cứ điểm mạnh, quan trọng như: Tà Cơn do Trung đoàn 26 lính thủy đánh bộ Mỹ đóng giữ, chi khu quận lỵ Hướng Hóa có 3 đại đội quân ngụy bảo vệ và căn cứ Làng Vây do 1 tiểu đoàn biệt kích ngụy chiếm đóng, có cố vấn Mỹ chỉ huy. Ngoài ra có lực lượng ở phía sau sẵn sàng ứng cứu giải tỏa. Và được pháo binh, không quân (kể cả máy bay ném bom chiến lược B52) chi viện.

Làng Vây là cứ điểm tiền tiêu mạnh trong hệ thống phòng thủ Đường 9-Khe Sanh của Mỹ-ngụy, là cửa ngõ bảo vệ cụm cứ điểm Tà Cơn- bảo vệ phía trước Sư đoàn 3 lính dù Mỹ và án ngữ vùng biên giới Việt - Lào. Cứ điểm Làng Vây dài 1000 mét, rộng 600 mét, chia làm 4 khu, do 4 đại đội biệt kích 101; 102; 103;104 của tiểu đoàn biệt kích nguỵ Sài Gòn chiếm giữ. Khu trung tâm gồm sở chỉ huy và khu cố vấn Mỹ. Quân địch trong cứ điểm có khoảng 600 tên và 30 cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy (không tính số địch từ Huội San chạy về).

Cứ điểm được xây dựng kiên cố, có hệ thống hầm ngầm, hàng rào và các loại vật cản dày đặc. Dọc theo hàng rào, địch gài mìn sát thương chống bộ binh và đặt các thùng chứa chất cháy để chiếu sáng. Cách cứ điểm 200 mét về phía tây có điểm cao 230 là vị trí tiền tiêu do một trung đội biệt kích Nguỵ chốt giữ. Làng Vây là cứ điểm rất quan trọng, nên Tổng thống Mỹ Giôn- Xơn lúc đó đã từng bắt tướng lĩnh Mỹ ký giấy cam kết không để mất Làng Vây và Khe Sanh.

Hướng phòng ngự chủ yếu của địch là Tây - Tây Bắc dọc theo Đường 9, vì địch dự đoán xe tăng ta sẽ tiến công theo hướng này. Trên hướng Đông- Đông Nam, địch bố trí phòng ngự tương đối sơ hở, vì hướng này là chiều sâu phòng ngự của chúng, lại do yếu tố địa hình phức tạp (có sông Xê Pôn là vật cản tự nhiên cho cứ điểm). Biết xe tăng ta đã xuất hiện ở Tà Mây, địch cho rằng xe tăng ta chỉ có thể cơ động tiến công Làng Vây theo trục Đường 9, nên chúng đã tập trung hỏa lực, không quân, pháo binh đánh phá suốt đêm ngày và tăng cường lực lượng phòng ngự để ngăn chặn các mũi tiến công của ta từ hướng này.

Tiểu đoàn Tăng 198 được giao nhiệm vụ: Bí mật cơ động lực lượng tới gần địch, hành tiến tiến công, dùng sức mạnh hỏa lực, xung lực của xe tăng chi viện cho bộ binh thực hành đột phá, thọc sâu, chia cắt tiêu diệt địch, nhanh chóng đánh chiếm trung tâm chỉ huy và làm chủ hoàn toàn các mục tiêu được phân công.

Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, đêm 23 rạng ngày 24-1-1968, đại đội tăng 3 ( 11 xe) phối thuộc cho trung đoàn BB 24 sư đoàn 304 tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Huội San do một tiểu đoàn quân Ngụy Lào chiếm giữ, quân số khoảng 730 tên. Mục tiêu tiến công chủ yếu là diệt cứ điểm Tà Mây để mở đường, đưa lực lượng lớn của chiến dịch vào đánh Làng Vây - Tà Cơn. Tối 23-1 các đơn vị bộ binh bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa, 10 giờ các trung đội xe tăng lần lượt xuất kích.

Khi bộ binh ta áp sát hàng rào cứ điểm Tà Mây, bị hỏa lực dày đặc của địch chặn lại...xe tăng 558 được lệnh vượt lên dùng hỏa lực trên xe bắn sập lô cốt và diệt các hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho xe 555 cùng bộ binh, công binh xung phong đánh thẳng vào bên trong cứ điểm địch. Toàn bộ căn cứ địch chìm ngập trong lửa và khói đạn. Với sự xuất hiện quá bất ngờ của xe tăng ta, quân Ngụy - Lào hoảng hốt tháo chạy tán loạn, bộ binh ta truy kích, tiêu diệt địch, làm chủ trận địa trong thời gian ngắn.

Sơ đồ trận tiến công cứ điểm Làng Vây của d198/eT203. Ảnh P. Sơn

Sau khi cứ điểm Huội San bị tiêu diệt, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đưa cả tiểu đoàn 198 vào tham gia chiến đấu cùng trung đoàn BB 24 (sư đoàn 304) và một tiểu đoàn của sư đoàn 325, thực hiện đánh trận then chốt, tiêu diệt cứ điểm Làng Vây.

Đúng 17 giờ ngày 6-2, trận tiến công cứ điểm Làng Vây bắt đầu; pháo binh ta bắn chế áp đợt 1 vào trung tâm cứ điểm để ngụy trang tiếng động cho xe tăng xuất kích. 18 giờ cùng ngày, 2 đại đội xe tăng được lệnh xuất kích.

Đại đội tăng 9 đã bơi xuôi theo dòng sông Xê Pôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch khoảng 1800m, sớm hơn qui định 2 giờ, giữ được bí mật, an toàn, sẵn sàng chờ lệnh. (Lợi dụng doi đất nổi lên ở bờ sông, 8 chiếc xe của đại đội tăng 9 được bố trí theo 1 hàng dọc nối tiếp vào doi đất, do được ngụy trang tốt nên địch không phát hiện được lực lượng xe tăng ta).

Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, khi qua ngầm số 5, có 5 xe bị sa lầy phải cứu kéo; đến 23 giờ cả 8 xe đều đến được vị trí điều chỉnh cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2000 m, giữ được bí mật an toàn.

23 giờ 15 phút pháo binh bắn chế áp đợt 2, xe tăng ta được lệnh tiến vào tuyến triển khai xung phong. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

23 giờ 25 phút, sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Trên hướng chủ yếu, đại đội tăng 9 vượt cửa mở vừa dẫn dắt bộ binh xung phong, vừa phát huy sức mạnh hoả lực pháo, súng máy trên xe tiêu diệt và uy hiếp địch. Lớp rào cuối cùng chưa mở xong, xe tăng đại đội trưởng Ngô Xuân Nghiêm đã lao lên đè bẹp hàng rào, nhanh chóng băng qua, tiêu diệt các mục tiêu ở cửa mở, đồng thời chiếm giữ đầu cầu yểm hộ cho trung đội tăng 3 cùng bộ binh vượt qua cửa mở. Đại đội trưởng Ngô Xuân Nghiêm lệnh cho xe của trung đội tăng 3 yểm hộ cho bộ binh tiếp tục vượt qua cửa mở; các xe khác phối hợp với bộ binh, đặc công thọc sâu, đánh thẳng vào sở chỉ huy và khu cố vấn Mỹ… Đến 3 giờ sáng ngày 7/2/1968, ta cơ bản đánh chiếm và làm chủ trận địa, chỉ còn một số tên địch rút vào hầm ngầm cố thủ nhưng cũng bị bộ binh ta đánh sập, bắt gọn.

Trận đánh đã kết thúc thắng lợi. Sau 4 giờ chiến đấu dũng cảm ta đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1000 tên địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị. Chúng ta đã đánh thắng địch ngay tại nơi chúng đoán trước được ý đồ tiến công của ta và đã ra sức đề phòng. Điều đó khẳng định không có vị trí phòng ngự kiên cố nào của chúng ở đây có thể giữ nổi.

Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây đã góp phần phá vỡ một mảng tuyến phòng thủ chiến lược Đường 9 của Mỹ-Ngụy, dồn địch vào thế bị động đối phó, đây là sự phối hợp kịp thời với các chiến trường trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy long trời, lở đất của quân và dân ta trong mùa xuân 1968; đánh dấu bước trưởng thành mới của bộ đội Tăng thiết giáp về tổ chức chỉ huy và khả năng sử dụng vũ khí trang bị hiện đại.

Đây là chiến thắng đã gây được tiếng vang lớn cả về quân sự và chính trị, khẳng định chủ trương đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển lực lượng TTG trong thành phần quân đội ta là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tình hình và nghệ thuật quân sự Việt Nam và khẳng định việc sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp vào chiến trường là đúng thời cơ, và sự cần thiết cho các trận đánh lớn và các chiến dịch lớn sau này ( gần nhất là chiến dịch phản công Đường 9- Nam Lào năm 1971 có lực lượng xe tăng ta tham gia, đạt hiệu suất chiến đấu cao); khẳng định được sức mạnh đột kích của xe tăng trên chiến trường, tạo cơ sở thực tiễn cho sự hình thành nghệ thuật sử dụng Tăng thiết giáp trong chiến dịch.

Trận Tà Mây-Làng Vây đã đi vào lịch sử Binh chủng TTG như một mốc son chói lọi. Là thành quả tất yếu sau gần 10 năm luyện cán, rèn binh với tinh thần hướng ra tiền tuyến, hướng ra chiến trường, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược “đã ra quân là đánh thắng”. Là niềm tự hào và kiêu hãnh của cán bộ, chiến sỹ xe tăng.

Hồng Anh –Phương Huyền
Bài 1: Mở đầu cho chiến thắng
Bài 2: Kỷ lục thế giới về hành quân bằng bánh xích

Bài 3: Bí mật, chuẩn bị chiến đấu