LTS: Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng vừa chỉ đạo Binh đoàn 15 tổng kết mô hình “gắn kết hộ” để tiếp tục phát huy, nhân rộng. Nghiên cứu kỹ hơn về mô hình này, chúng tôi càng thấy giá trị những bài học kinh nghiệm của Binh đoàn 15 trong công tác dân vận. Có thể coi đây là những kinh nghiệm quý về thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trên một địa bàn có vị trí chiến lược là Tây Nguyên.

Bài 1: Tất cả vì dân

Để giúp bạn đọc theo dõi, chúng tôi xin khái quát lại mô hình “gắn kết hộ” ở Binh đoàn 15. Binh đoàn thành lập từ ngày 20-2-1985, được Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh trên địa bàn một số tỉnh Tây Nguyên, Nam Quảng Bình và làm nhiệm vụ hợp tác kinh tế với nước bạn Lào và Cam-pu-chia.

Ngay từ những ngày đầu thành lập, Binh đoàn đã coi công tác dân vận, thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc là một động lực và là đòn bẩy quan trọng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Binh đoàn nêu phương châm gắn kết theo phân cấp: Binh đoàn gắn kết với tỉnh; công ty gắn kết với huyện; đội sản xuất gắn kết với xã, thôn và cuối cùng là các hộ công nhân người Kinh gắn kết với hộ lao động người dân tộc thiểu số tại chỗ. Trên thực tế, cấp cuối cùng này là quan trọng nhất, vì suy cho cùng, mọi chủ trương, chính sách đều phải hướng tới người dân và chính nhân dân là người trả lời: Chính sách đó có phù hợp không, có thực hiện được không, có thực sự vì lợi ích của dân không và muốn thành công nhất thiết phải dựa chắc vào dân.

Năm 2006, Binh đoàn 15 đã chỉ đạo các Công ty trong toàn Binh đoàn tổ chức mô hình “gắn kết hộ” công nhân người Kinh với hộ công nhân là đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn và chọn 30 cặp hộ làm điểm để rút kinh nghiệm trước khi làm đại trà ở Đội 16, Công ty 74. Đến nay toàn Binh đoàn đã có hơn 4000 cặp hộ gắn kết với nhau rất hiệu quả.

Thiếu tướng Nguyễn Xuân Sang - Tư lệnh Binh đoàn 15 - gặp gỡ, động viên công nhân đồng bào địa phương về cổ vũ hội thao kỹ thuật khai thác mủ cao su tại Công ty 72.

Tuy nhiên, câu trả lời không phải có ngay. Toàn Binh đoàn đã phải nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm nhiều năm mới khẳng định được nội dung, phương thức, cách làm, hiệu quả của mô hình “gắn kết hộ”. Thiếu tướng Nguyễn Xuân Sang, Anh hùng Lao động, Anh hùng LLVT nhân dân, Tư lệnh Binh đoàn cho biết:

- Ngay từ thời kỳ đầu mới thành lập, đi vào hoạt động, Binh đoàn đã rất coi trọng công tác dân vận và trên thực tế đã triển khai nhiều mô hình tốt như kết nghĩa với chính quyền địa phương, kết nghĩa với các cấp, các ngành, tổ chức cho bộ đội hành quân dã ngoại về các bản làng kết hợp giúp dân xóa đói giảm nghèo... Hằng năm, Binh đoàn đầu tư nhiều tỷ đồng góp phần cùng địa phương xây dựng “điện, đường, trường, trạm”… Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi rất trăn trở là đời sống của đồng bào không thay đổi được bao nhiêu, tỷ lệ hộ đói, hộ nghèo trên địa bàn đơn vị đóng quân vẫn cao; phong tục lạc hậu vẫn nặng nề; kẻ xấu thì tìm mọi cách lợi dụng xuyên tạc, gây chia rẽ giữa các dân tộc... Chúng tôi thẳng thắn rút kinh nghiệm và nhận thấy, công tác dân vận, trong nhiều trường hợp chưa thiết thực, chưa phục vụ lợi ích người dân, người đi làm dân vận vẫn xa dân, chưa hiểu dân, chưa gắn kết với dân. Nhìn thẳng vào sự thật đó, Đảng ủy Binh đoàn đã quyết định phải đổi mới hơn nữa phương thức hoạt động dân vận với mục tiêu mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân và lấy mô hình “gắn kết hộ” lao động người Kinh với hộ lao động người dân tộc thiểu số làm đột phá.

Chúng tôi cùng Đại tá Nguyễn Minh Đức, Phó chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn lại một lần nữa trở lại cái nôi của mô hình “gắn kết hộ” là Công ty 74 để làm sáng tỏ hơn ý kiến của đồng chí Tư lệnh Binh đoàn.

Đại tá Trần Quang Hùng, Giám đốc Công ty 74 là người lăn lộn với mảnh đất Tây Nguyên từ khi còn là binh nhì. Anh là một trong những “kiến trúc sư” của mô hình “gắn kết hộ”. Anh đã kể lại câu chuyện ngày đầu Công ty tuyển người địa phương vào làm công nhân trồng cây cao su với rất nhiều ưu đãi, chế độ chính sách hơn hẳn so với công nhân là người của các tỉnh nhưng đồng bào chỉ vào làm được vài tuần là bỏ về hết, vận động trở lại vẫn tiếp tục bỏ! Bà con bỏ việc vì không quen làm cao su, không tin làm được. Tình trạng trên không phải diễn ra một năm, mà là nhiều năm. Đã có những thời điểm hầu như toàn bộ công nhân là đồng bào dân tộc địa phương bỏ vườn cây, bỏ công ty!

Có cách gì để kéo bà con trở lại? Ý tưởng về mô hình “gắn kết hộ” lao động người Kinh với hộ lao động đồng bào dân tộc thiểu số được Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh đoàn nhất trí biến thành chủ trương và chỉ đạo tiến hành làm trước ở Công ty 74. Cuối năm 2006, Đội sản xuất 16, chọn 30 cặp hộ công nhân để tổ chức gắn kết trước theo chỉ đạo của Binh đoàn, thì trong năm cả 30 cặp hộ này không còn xảy ra trường hợp công nhân người dân tộc bỏ việc mà bà con lại còn vận động, thu hút thêm anh em, họ hàng, người thân vào làm công nhân trong công ty.

Ngôi nhà mới xây của vợ chồng Sưu Liệu và Rơ Mab H Nghiệp (thứ nhất và thứ 2, từ phải sang), làng Chan, xã Iapnôn, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai gắn kết với hộ Nguyễn Thị Hoa (thứ 2, từ trái sang) công nhân thuộc Đội 711, Công ty 72, Binh đoàn 15

Vì sao vậy? Vì khi có những người anh em kết nghĩa người Kinh khuyên nhủ cách làm ăn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, thậm chí là “cầm tay chỉ việc”, mọi việc đối với bà con trở nên dễ dàng hơn. Bà con quen dần với kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cao su, biết cải tạo vườn nhà từ vườn tạp thành vườn cao su, cà phê, cây ăn quả có giá trị. Tổ chức đời sống gia đình, cách ăn ở, chi tiêu, nuôi dạy con cái, đời sống văn hóa, tâm linh... đều có người anh em chỉ bảo, hướng dẫn cặn kẽ, cuộc sống trở nên bớt khó hơn. Rồi từng bước có bát ăn, bát để, có tích lũy, mua sắm đồ dùng tiện nghi có giá trị. Tất cả đều do bàn tay lao động làm ra. Bà con rất phấn khởi tin tưởng. Hóa ra mình có đất, mình có sức mà lâu nay chưa biết cách làm ăn nên chịu đói khổ, lạc hậu. Nay được anh em người Kinh giúp đỡ thực sự đổi đời. Cuộc sống khá giả, văn minh hơn. Mô hình “gắn kết hộ” từ đó đi vào cuộc sống một cách tự nhiên, không cần ai ép buộc, không chịu bất cứ sự áp đặt nào, “tình làng nghĩa xóm” ngày một đong đầy. Đến nay thì không những 100% các cặp hộ của công ty đã gắn kết với nhau, mà còn gắn kết cả với những hộ ở địa phương không phải là công nhân của công ty. Các cặp hộ thực sự coi nhau như anh em một nhà “sống chết có nhau” chứ không còn cảnh “đèn nhà ai nhà ấy rạng” như trước nữa.

Đồng chí Phạm Đình Thu, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai cho rằng, ý nghĩa lớn nhất của mô hình “gắn kết hộ” chính là đã góp phần giải được bài toán “bỏ trống cơ sở” ở các địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.

Nhìn lại, chúng ta thấy không riêng gì Tây Nguyên, mà nhiều địa phương khác trong cả nước đang tồn tại một thực tế là các chính sách của Đảng và Nhà nước đúng đấy, nhưng chưa đến được với nhân dân đầy đủ. Càng ở vùng sâu vùng xa, địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số, những nơi dân trí còn thấp, phong tục tập quán lạc hậu, thì vận động nhân dân càng khó. Trong khi hệ thống cán bộ của chúng ta, nhất là cán bộ cơ sở, chưa thực sự gần dân, “nói nhiều, làm ít” chứ chưa có tác phong “miệng nói, tay làm”; nhiều hình thức tiến hành công tác dân vận cũ mòn, không sát thực tế, hiệu quả rất thấp.

Binh đoàn 15 thực hiện mô hình “gắn kết hộ” chính là đã xây dựng thành công một thế trận làm công tác vận động quần chúng đông đảo, rộng khắp, trên địa bàn một số huyện của các tỉnh Tây Nguyên, biến hàng ngàn công nhân của Binh đoàn trở thành “cán bộ dân vận” của Đảng. Chính các hộ lao động, công nhân của Binh đoàn mới đích thực là những cán bộ dân vận “3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với dân, biết nói cho dân hiểu, làm cho dân tin và giúp dân hết lòng, với tình anh em thực sự. Thực tế đã chứng minh, hình thức gắn kết hộ rất phù hợp với văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, sống quần tụ, trọng chữ tín, ưa làm hơn ưa nói….

Bài 2: Từ “tình làng, nghĩa xóm” đến tình anh em chí cốt

Phúc Nguyên, Huy Thiêm và Đặng Trung Hội