Nhìn anh đi cà nhắc trên chiếc chân giả, luôn tay đảo những sợi miến dong trong suốt, dài và mềm mại, ít ai biết người thương binh bình dị ấy trong thời gian điều dưỡng ở nhà đã dũng cảm truy đuổi tên cướp ngày, hung hãn, khi cùng đường hắn đã rút chốt quả lựu đạn đe dọa tính mạng của nhiều người dân, hòng tẩu thoát... Anh là Trần Đức Thái, thương binh hạng 1/4, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Có một thời trên sân bóng chuyền của thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa anh đã nổi danh với cú đập sấm sét bằng tay phải-mặc dù tay trái đã bị cụt đến khuỷu trong chiến dịch vận chuyển vũ khí trên đường 559 chuẩn bị cho Tổng tiến công năm 1975. Đến hôm nay, ngồi với tôi kể lại những kỷ niệm cũ, giọng anh đầy hứng khởi:

- 17 tuổi, nhà có 3 anh em trai thì hai anh đầu đã đi bộ đội. Tôi làm hàng chục lá đơn tình nguyện nhập ngũ. Mãi đến năm 1972, ông Chủ tịch và Xã đội trưởng mới gật đầu đồng ý. Sau ba tháng huấn luyện ở đoàn 808, với sức khỏe A1, cao 1,77 mét tôi được đi học lái xe và được điều về công tác ở đoàn 559. Năm 1973, tôi chuyển về phòng hậu cần Sư đoàn 2. Tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng tôi cũng đã "bắt sống" được hàng chục xe GMC của Mỹ trong các trận đơn vị đánh địch ở Tiên Phước, Kỳ Phú, Tam Kỳ… để bổ sung vào tiểu đội xe gồm toàn những xe vọt tiến chạy hàng vạn ki-lô-mét nên máy móc đã "lung lay như răng bà lão 90". Đời đang "lên hương" thì tôi bị thương trong lần chở đạn cho tiểu đoàn 28 pháo cao xạ 37mm. Cái thằng C130 đêm ấy "dai như giẻ váy" cứ bám đội hình xe như là quạ đói thấy mồi. Vừa xả những tràng đạn 20mm, thằng phi công lại hứng chí bắn một chùm pháo khói chỉ điểm cho lũ F4 đến ném bom. Quả rốc-két bắn đúng nắp ca pô, chiếc xe của tôi bốc cháy đùng đùng. Lao ra khỏi xe, tôi lăn xuống một rãnh nước cạnh đường, không ngờ dính luôn quả bom phát quang của thằng AD6. Chỉ cảm thấy trong người mát lạnh rồi ngất đi. Đến khi tỉnh lại theo bản năng tôi giơ hai tay như khi cầm lái, lúc ấy mới biết cánh tay trái chỉ còn lại một khúc.

Giơ cánh tay trái cho tôi xem, giọng tự hào:

- Cái khúc ấy tưởng như vô dụng nhưng bây giờ cũng làm được khối việc, không tin anh hỏi bà xã tôi thì biết.

Vợ anh, chị Nguyễn Thị Nhân lễ mễ bưng từ trong bếp ra mâm thức ăn bốc khói, thơm mùi cá rô đồng nướng vừa chín tới, những chiếc bánh đa to vàng sẫm, lốm đốm những hạt vừng đen nhỏ li ti, nói xen vào:

- Anh Thái nói dóc đó.

Vợ anh là người "mỏng mày, hay hạt". Ở độ tuổi 50, trên gương mặt sáng, đôi mắt lá dăm đã có nhiều vết nhăn nhưng vẫn ánh lên vẻ đằm thắm, mặn mà, nồng ấm. Người cùng xã với anh nhưng cuộc tình giữa hai người cũng "ba chìm bảy nổi" vì "anh ở đầu sông, em cuối sông" như anh nói đùa.

Trước khi bị thương, đầu năm 1974 nhận nhiệm vụ đánh xe ra tận Đông Hà để nhận quân. Trong trạm giao liên nghỉ lại đêm ấy anh gặp một đại đội thanh niên xung phong toàn con gái tuổi còn rất trẻ. Nghe các cô nói mô, tê, răng, rứa, biết toàn là người "quê choa" cả, anh quyết định làm quen. Lục tận đáy ba lô tự đánh bóng mình bằng bộ quân phục tươm tất nhất và ít nước lã để cho mái tóc cứng như rễ tre ép xuống, anh tự tin bước vào "xứ sở đào hoa". Ở đơn vị được mệnh danh là "bẻm mép" thế mà khi đến đây anh khép nép như "rắn mồng 5", bao nhiêu câu tình tứ nghĩ lúc trước như biến hết khỏi đầu. Tưởng đã thua "lấm lưng trắng bụng". Nhưng cái cô bé nhỏ nhất, có nước da trắng xanh và mái tóc huyền để xõa ngang vai, ngồi tít ở góc lán trong cũng đã cứu anh một "bàn thua trông thấy". Cô đứng dậy nói bằng một giọng trong veo: "Các chị ơi, anh ấy mới từ trong tê ra, còn đang mệt, để em pha cốc sữa, rồi anh kể chuyện trong đó cho chúng em nghe". Lần ấy như "duyên tiền định" anh xin địa chỉ và mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng cứ rảnh ra lúc nào anh lại thấy đôi mắt lá dăm ngây thơ nhìn mình. Viết thư, mong đến mỏi mắt nhưng "vẫn bặt vô âm tín". Tưởng chừng vô vọng. Năm 1976 ra Bắc điều trị vết thương, một lần lên nhà chú ở thị trấn Kiểu chơi anh gặp lại cô ở đó. Đám cưới được tổ chức ngay đầu đông năm ấy và hai vợ chồng trẻ sống đầm ấm trong ngôi nhà cấp 4, mà anh em thương binh nặng ở Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Thanh Hóa người ít, người nhiều xúm tay nhau xây dựng cho. "Đám cưới toàn thương binh nặng, nhưng họ lạc quan, yêu đời và thương nhau đến thế" đến bây giờ người dân Quán Lào vẫn nói về đám cưới cách đây đã 30 năm bằng giọng cảm phục.

Mất 75% sức khỏe, anh vẫn xin Trung tâm điều dưỡng cho mình về nhà để giúp đỡ vợ con và tham gia công tác với địa phương để tránh sa vào cảnh "nhàn cư vi bất thiện", như anh tâm sự. Cùng với vợ, anh bươn trải tìm cách làm giàu vừa dành thời gian hoàn thành công việc của một đội viên an ninh mà xã giao cho, lại còn huấn luyện viên không chuyên kiêm cầu thủ của đội bóng chuyền thị trấn Quán Lào nổi tiếng một thời.

16 giờ 30 phút, ngày 5-8-1985 anh đang cùng vợ tính toán lời lãi của vụ làm long nhãn ở trong nhà, bỗng nghe tiếng la của bà con lối xóm: Cướp… cướp… cướp. Như một phản xạ tự nhiên, anh lao ra khỏi nhà chạy như tên bắn theo hướng bà con chỉ, nơi tên cướp đang hốt hoảng định vượt qua ngọn đồi xã Định Hải. Đuổi được khoảng 1km gặp chiếc xe con ngược chiều, giải thích nhanh cho mọi người trên xe hiểu, rồi quay xe đuổi theo. Tên cướp cùng đường nhảy xuống chân ruộng chưa cấy, anh lao theo. Hắn hung hãn rút dao đâm ngược lại khi thoáng thấy bóng người ập đến sau lưng. Bằng một thế võ thuần thục anh bắt được dao và dùng gối thúc vào bụng làm tên cướp ngã úp mặt xuống ruộng bùn. Lúc ấy bà con kéo ra rất đông. Bên cạnh anh lúc này có thêm anh Lê Quốc Tiến-người bảo vệ cửa hàng bách hóa nơi tên cướp tấn công. Anh hô cánh thanh niên trên bờ xuống hỗ trợ trói tên cướp lại. Bỗng nghe tiếng "cách" rất nhẹ, nhìn xuống đã thấy quả lựu đạn mỏ vịt tên cướp vừa rút chốt đang xì khói. Ngay lập tức khúc tay cụt của anh gạt anh Tuấn ngã xuống, đồng thời chân trái anh giẫm mạnh lên quả lựu đạn tên cướp cầm trên tay dúi nó xuống bùn. Một tiếng nổ lớn kèm theo một quầng lửa. "Tôi thấy người lâng lâng như cảm giác mất trọng lượng rồi không biết gì nữa" -Anh nhớ lại.

Chị Nhân kể:

- Lúc thấy anh chạy ra khỏi nhà, tôi vội chạy theo. Nghe tiếng lựu đạn nổ tôi nghĩ anh đã chết, lội ào xuống ruộng cùng bà con xốc anh lên xe. Mảnh lựu đạn làm chân trái của anh gần như gãy rời, nó chỉ dính vào đùi nhờ những mảnh da rách tướp, đẫm máu, cả người anh lỗ chỗ mảnh lựu đạn. Cũng may bệnh viện gần nên anh được băng bó, cấp cứu kịp thời. Nhưng vì vết thương ngâm trong bùn lâu, anh bị nhiễm trùng máu toàn thân.

- Tôi sống được là nhờ những dòng máu của đồng đội đã hiến cho tôi, những tấm lòng chân thành của bà con ở thị trấn Quán Lào, các anh thương binh nặng đã từng sống với tôi trong các trại điều dưỡng. Những ngày ấy phòng bệnh của tôi lúc nào cũng ngập hoa tươi, hoa quả, đường sữa. Tôi nhớ anh Giao, anh Sơn, chú Bình đêm ngày thay nhau chăm sóc, thay quần áo, tắm rửa cho tôi mặc dù chú Bình cụt gần như cả hai tay, còn ruột anh Giao giống như chiếc săm xe đạp bị vò nát vì những viên bi trong thời kỳ ở chiến trường.

Nằm ở bệnh viện Bạch Mai 13 tháng, khi vết thương lành, Trần Đức Thái trở về quê, thêm chiếc lạng gỗ đỡ chiếc chân trái bị mảnh lựu đạn tiện tới gần háng. Vẫn miệt mài làm việc nhà, việc làng, việc xã, mỗi lần có khách đến chơi, muốn nghe lại hành động anh hùng của anh buổi chiều năm ấy, anh chỉ cười khiêm tốn:

- Tôi nghĩ bất cứ ai ở trong trường hợp ấy đều hành động như thế. Ở hoàn cảnh cụ thể đó tôi phản ứng nhanh vì đã được rèn luyện trong quân đội.

Tháng 12-1986, Thái được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất và phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trên trận tuyến an ninh.

Buổi chiều hôm ấy dẫn tôi đi xem trận bóng chuyền giữa đội xã Định Hải và thị trấn Quán Lào, anh ghé sát vào tai tôi nói:

- Ngày mai bà xã lại chở tôi đi họp chi bộ trên Trung tâm điều dưỡng. Nhà tôi tổng cộng cả dâu, cả rể cũng có tới 8 đảng viên rồi.

VŨ ĐẠT