Sáng 11-6-2008, tôi nhận được hung tin: nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từ trần! Tôi bàng hoàng không dám tin vào tai mình nữa. Hôm ông ra Hà Nội dự Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc, tôi còn gọi điện cho anh Trịnh, thư ký riêng của ông, xin hẹn được gặp ông tại TP Hồ Chí Minh. Ông đồng ý, vậy mà khi trở lại thành phố rồi ra nước ngoài chữa bệnh, ông đột ngột ra đi. Thật đau xót!

Đồng chí Võ Văn Kiệt sinh ngày 23-11-1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Tên khai sinh của ông là Phan Văn Hòa (Chín Hòa), bí danh là Sáu Dân. Là con út trong một gia đình nông dân nghèo có 8 người con, 6 trai, 2 gái, ông là người có số phận kỳ lạ. Do hoàn cảnh ngặt nghèo, mẹ ông đành chấp nhận nuôi con người khác, trong khi cậu bé Chín Hòa gia đình phải cắn răng cho một người trong họ làm con nuôi. Hàng ngày cậu bé phải đi bú thép (bú nhờ), nhờ dòng sữa tình thương của bà con lối xóm. 12 tuổi, Chín Hòa đã phải đi làm mướn gánh nước, coi trâu. 14 tuổi đi ở đợ làm thuê xay lúa, giã gạo, làm vườn,… quần quật suốt ngày. Nhờ những ngày cơ cực mà ông sớm giác ngộ cách mạng. Về trình độ văn hóa, ông bảo tôi, ông chỉ được học võ vẽ ở trường làng, sau đó là học ở trường đời, học anh em đồng chí, học trong lò lửa đấu tranh cách mạng.

Đồng chí Võ Văn Kiệt khi còn là Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định. (ảnh tư liệu)

Hơn 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Võ Văn Kiệt từng được trao giữ nhiều trọng trách lãnh đạo của Đảng, chính quyền từ quê hương Vĩnh Long nói riêng, đến mảnh đất Nam Bộ nói chung và rộng ra trên phạm vi cả nước. Ở đâu ông cũng có những đóng góp to lớn và xuất sắc, để lại những dấu ấn không phai mờ trong lòng đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế. Có thể nói, Võ Văn Kiệt là một trong những kiến trúc sư hàng đầu của công cuộc đổi mới đất nước.

Tôi biết trong chiến tranh, chú Sáu Dân đã từng phải gánh chịu nhiều nỗi đau mất mát. Người vợ đầu của ông cùng với ba người con thân yêu bị mất tích trong chiến tranh. Nhớ về ông, người dân thành phố mang tên Bác sẽ mãi còn lưu giữ hình ảnh về một cán bộ lãnh đạo gần dân, trăn trở lo toan, thậm chí dám cả gan “xé rào” vì miếng cơm manh áo của người dân sau ngày đất nước thống nhất. Với thế hệ trẻ, ông là người đặc biệt quan tâm đến từng bước trưởng thành của các cháu thiếu nhi, thanh niên, học sinh, sinh viên. Ngay trong những ngày khốn khó của thời bao cấp, ông từng phát biểu: “Thành phố soi thấy tương lai rất sáng của mình trên vầng trán các em”.

Nhớ về ông, tôi luôn nhớ và kính trọng nhân cách một con người, nhân cách Võ Văn Kiệt. Từ con người ông luôn toát ra một sức hút đặc biệt, một sự lôi cuốn không gì cưỡng nổi đối với tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ. Tất cả xuất phát từ phong thái, bản lĩnh, tấm lòng nhân ái và sức sáng tạo không biết mệt mỏi của một nhà lãnh đạo suốt đời vì dân. Ngay cả với những người bình dân, ông vẫn luôn bày tỏ thái độ trân trọng và gần gũi. Ai được tiếp xúc với ông, dù chỉ một lần, cũng không thể nào quên được cung cách ứng xử vừa chân thành, cởi mở, vừa chu đáo ân cần của ông. Mọi người thân mật gọi ông là anh Sáu, chú Sáu. Nụ cười hào sảng của ông thể hiện cái nhìn tràn đầy lạc quan, tin tưởng, “nụ cười vượt khó” trong những bước ngặt nghèo. Ông quan tâm đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, thẳng thắn tỏ bày chính kiến và tâm huyết trước những vấn đề trọng đại của Đảng, của dân và của đất nước.

Năm 2005, tôi chuyển công tác vào thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu. Là cán bộ biên tập NXB QĐND, tôi được Tạp chí Văn hóa Quân sự (VHQS) phân công đến xin bài của ông. Biết là ông đã nghỉ công việc ở Trung ương, song lịch làm việc vẫn luôn xếp kín mít. Vì vậy, xin ông được vài chục phút quả thực hết sức quý giá. Thú thực, mặc dù nghe nhiều người nói về ông, nhưng mới đầu được diện kiến ông, tôi vẫn hơi ngại. Vậy mà trong câu chuyện, ông nghiêng mái đầu tóc trắng như mây hỏi tôi về công việc xuất bản, về nhà cửa, vợ con rất thân tình, khiến tôi tự tin và mạnh dạn. Ông rất quý trọng các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn quân đội. Được ngồi hầu chuyện với ông, được nghe giọng nói sôi nổi đầy âm sắc Nam Bộ của ông, tôi thấy sung sướng và ấm lòng xiết bao. Khi Tạp chí VHQS đăng bài đầu tiên của ông, tôi mang báo biếu và nhuận bút đến, ông cười vui: “Nếu các đồng chí dám đăng thì tôi dám viết lắm chớ!”. Từ đó trở đi ngôi nhà 16 Tú Xương, quận 3, thành địa chỉ quen thuộc. Dù bận rộn đến mấy nhưng khi đã hẹn, ông đều dành thời gian khoảng 30 phút để tiếp tôi. Nhưng khi làm việc quá thời gian một chút, thì phu nhân Phan Lương Cầm đích thân mang ra đĩa trái cây để ông và tôi thưởng thức.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc. Ảnh tư liệu

Năm 2006, nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 84 của ông, tôi xin phép được tuyển chọn và tập hợp những bài viết, bài nói của ông để in thành sách. Từ khâu xây dựng đề cương đến việc đặt tên sách, viết lời tựa, tôi đều chuẩn bị kỹ càng mang đến trình bày với ông. Ông hoàn toàn ủng hộ và quyết định chọn một trong 9 tên sách mà tôi đưa ra: “Đổi mới, bản lĩnh và sáng tạo”. Bìa sách do họa sĩ Võ Anh Thơ thể hiện rất ấn tượng. Cuối cùng là nội dung, tôi xin ý kiến ông cụ thể từng bài. Riêng bài “Lấy từ bi diệt hận thù” nhân ngày rằm tháng Bảy đã in trên một tờ báo nọ, nội dung bài báo rất hay, song cái tựa thì ông băn khoăn. Ông điện thoại bảo tôi thử tìm tòi xem sao. Tôi đề xuất nên sửa lại tít: “Lấy từ bi cởi bỏ hận thù”. Ông bảo hay, hận thù chỉ có thể “cởi bỏ” chứ không thể nào “diệt” được. Những bài viết của ông về “Người Công giáo gặp Chúa trong lòng dân tộc” hoặc “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta” thể hiện tầm nhìn, tấm lòng nhân ái bao dung của một nhà lãnh đạo tầm cỡ. Ở phần cuối cuốn sách, viết về chân dung các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội cũng vậy. Khi xuất hiện dưới dạng những bài báo lẻ, lác đác ở nơi này nơi khác có xuất hiện một số ý kiến không thuận chiều. Vì vậy, khi đưa vào sách, chúng tôi xin phép được biên tập lại và được ông nhất trí. Xong xuôi, tôi mang bản bông đến trình ông xem lại lần cuối, ông chấp thuận. Để NXB yên tâm, ông đặt bút ký vào trang đầu và trang cuối bản bông. Cuốn sách 400 trang, trình bày trang nhã, in đẹp, ra mắt bạn đọc như là một món quà nhân dịp sinh nhật ông. Tôi biết là ông rất vui.

Tiếp đó, theo sự phân công và được ông đồng ý, sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị, tôi bắt tay vào xây dựng đề cương cuốn Hồi ký. Bản đề cương tóm tắt đã được ông thông qua. Nhiều lần ông hẹn dẫn tôi đi cùng về lại những vùng đất mà ông đã từng sống và chiến đấu ở miền Tây Nam Bộ, Quân khu 9, Miền Đông, v.v.. nhưng rồi công việc khiến ông vẫn chưa thể nào dứt ra được. Vậy là thêm một lần tôi lỗi hẹn với ông. Xin vĩnh biệt ông, vĩnh biệt chú Sáu Dân kính mến!

Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc