“…Chiến tranh đã lùi xa, nhưng còn đó nhiều đồng đội của tôi vẫn chưa về. Tôi vẫn nghe văng vẳng đâu đó tiếng cười sảng khoái, hồn nhiên, vô tư của đồng đội trước giờ xung trận. Rồi cả những tiếng hô xung phong khi còn chút sức lực cuối cùng tiến lên phía trước. Đó là những điều thôi thúc tôi đi tìm đồng đội…”. Lời tâm sự của cựu chiến binh Trần Xuân Sơn, 56 tuổi, trú tại khối 5, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Hành trình gian nan

Nhập ngũ khi vừa tròn 17 tuổi, sau thời gian huấn luyện, Trần Xuân Sơn được điều về phục vụ chiến đấu ở khu vực sông Bến Hải, Vĩnh Linh, Quảng Trị trong những năm 1970-1971. Nhiệm vụ lúc đó của anh là vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam. “Chứng kiến những đồng đội lần lượt hi sinh. Rồi chính mình cũng bị thương khi mảnh bom găm vào đầu, máu chảy loang lổ, may mắn thoát chết. Điều đó ám ảnh tôi trong hơn 30 năm qua. Năm 1994, tôi quyết định đi tìm lại đồng đội. Việc đó là tự nguyện, lương tâm mách bảo tôi phải thế…”. Bác Sơn xúc động nói với tôi mà giọng cứ nghẹn lại, nước mắt chảy trên khuôn mặt sạm đen.

Bác Sơn kể: “Mỗi lần đi, tôi phải chuẩn bị rất nhiều thứ: Gạo, dầu đèn, mắm muối, thuốc phòng, dầu bóp, xoong nồi, bát, chăn, màn, võng..., nhưng quan trọng nhất là hương, vàng, áo vải, bao ni-lông và những tấm bản đồ. Tất cả nằm gọn trong chiếc ba lô này”.

Vai mang ba lô, đội mũ cối, đi dép cao su, mặc trang phục bộ đội, cứ thế bác một mình lặng lẽ ra đi. Chuyến đi thường kéo dài từ một đến hai tuần; ăn, ngủ ở rừng luôn. Hành trình đi bộ hàng trăm cây số, trèo đèo, vượt suối tìm đến những địa danh như Sê Pôn, Sê-rê-pôn (Lào), đồi Xa Ra, đồi Không Tên, đồi Bù, Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Hóa... Đó là những nơi một thời bom đạn ác liệt nhất.

Bác Sơn và những di vật của các liệt sĩ.

Thời gian đầu bác Sơn “mò mẫm” tìm hài cốt theo dấu hiệu nấm đất khả nghi. Khi đã biết thêm nhiều kinh nghiệm và trở nên “nổi tiếng” người dân đi rẫy, người rà phá bom mìn nếu phát hiện được phần mộ các liệt sĩ, họ đều liên lạc với bác. “Tiếng lành đồn xa”, biết việc bác làm một số gia đình ở Thái Bình, Yên Bái... cũng đến nhà nhờ tìm giúp liệt sĩ theo địa chỉ ghi trong giấy báo tử. Theo bác Sơn: Hài cốt liệt sĩ phải gắn với những vật dụng của bộ đội, có thể đó là đôi giày, khẩu súng, cúc áo, dây thắt lưng, thẻ quân nhân... Có lần, bác tìm thấy một nấm mồ có tới 5 liệt sĩ, bốc lên mà đau xót! Mỗi lần tìm được hài cốt đồng đội, bác gói cẩn thận vào túi ni-lông rồi mang về trình báo với cơ quan quân sự huyện và phối hợp tổ chức trang nghiêm lễ an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.

Trong suốt 15 năm qua đôi chân người cựu chiến binh Trần Xuân Sơn dường như không ngưng nghỉ. Về nhà được ít ngày là bác đã vội “hành quân” trở lại rừng. “Có hôm về nhà buổi tối, sáng dậy nghe tin ở đồi Bù dân bản đào hố trồng chuối phát hiện một hài cốt bộ đội là bố tôi khăn gói đi ngay.” - Chị Hương, con gái đầu của bác cho biết.

Còn sống là còn đi

Lấy nhau năm 1980, có với nhau 5 đứa con, nhưng từ 1994, khi cô gái út mới 5 tháng tuổi, bác Sơn đã phải xa nhà hàng tuần bởi hành trình đi tìm đồng đội. Cũng từ đây, bác Đặng Thị Hồng (vợ bác) thêm vất vả. “Thời gian đầu vợ con can ngăn, làng xóm xì xào. Họ nói tui điên, “vô công rồi nghề”, “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Người ta nói chi thì nói tui vẫn cứ đi. Tui biết, như thế thì mình sẽ có ít điều kiện chăm sóc gia đình, nhưng thời gian cũng làm vợ con hiểu, thông cảm. Bây giờ thì cả nhà đều động viên tui gắng sức mà làm” - Bác Sơn chia sẻ. 15 năm tìm, bốc hơn 300 ngôi mộ mà bác Sơn chẳng chút đòi hỏi gì. Với bác Sơn, làm việc này là để tích đức, lương tâm không cho phép có sự tính toán.

Rồi bác Sơn kể cho tôi nghe lần thoát chết khi vượt đồi A Sin vào mùa mưa năm 1996. Sức yếu, đường trơn khi vượt dốc bác bị trượt chân, ngã lăn 5 vòng, đầu gối xuyên vào vật nhọn, chảy máu rất nhiều. Rất may, bác được dân bản sơ cứu, rồi đưa về Bệnh viện huyện Hướng Hóa điều trị. Sau hai tuần nằm viện, sức khỏe của bác giảm đi rất nhiều. Thấy vậy, vợ con kiên quyết không cho bác đi nữa. “Ở nhà hơn hai tháng, tui thấy nhớ rừng, thương đồng đội. Thế tui lại mang ba lô vô rừng”- Bác Sơn tâm sự.

Mải chuyện, bây giờ tôi mới quan sát ngôi nhà của gia đình bác. Một ngôi nhỏ, ẩm thấp. Tài sản trong nhà chẳng có gì đáng giá. Không chế độ, hoàn cảnh khó khăn, con đông đang tuổi ăn học, tất cả chi phí phục vụ cuộc sống gia đình đều trông chờ vào khoản tiền lãi sau mỗi phiên chợ với những sản phẩm lao động của người vợ từ mảnh vườn nhỏ. Chia sẻ những điều thắc mắc của tôi, bác Đặng Thị Hồng nói: “Đợt này ông ấy yếu lắm, ăn hai lưng cơm đã dậy rồi. Thế mà mẹ con tui khuyên đừng đi tìm mộ nữa, nhưng ông ấy không chịu nghe. Ông ấy đi rồi lại thấy thương. Vợ chồng mà nhiều khi tui cũng không hiểu hết những suy tư, trăn trở của ông ấy”. Nói rồi, bác Hồng lấy vạt áo quệt hai hàng nước mắt chảy trên khuôn mặt nhăn nheo. Mắt tôi nhòa đi. Tôi cảm phục tấm lòng của bác Sơn đối với đồng đội bao nhiêu, càng thương bác Hồng bấy nhiêu. Thấy tôi không hỏi thêm điều gì, bác Sơn chủ động nói: “Biết là mình chưa chăm sóc được nhiều cho vợ con, nhưng có lẽ, còn sống tui còn đi tìm đồng đội...”.  

Bài và ảnh: QUỐC TUẤN